Chương 2
Võ Kiếm Các · Hồi 2Toàn tập · Phần 2 Toàn tập · Phần 2
- Trông có vẻ giống nhau, nhưng không bao giờ khẳng định một điều chưa được chứng minh. Anh vui lòng đưa cái cân tiểu ly của tôi lại đây.
Anh cẩn thận cân từng quân cờ rồi nhìn tôi, đắc thắng:
- Tôi nói đúng, thấy chưa? Đúng hòng lừa tôi dễ thế.
Và, nhấc ống máy nói:
- Alô! Alô! Scotand Yard? Ông Japp phải không? Poirot đây. Hãy theo dõi tên hầu Ivan. Đừng để nó thoát vì bất kỳ lý do nào.
Anh đặt máy, quay sang tôi mỉm cười:
- Anh không hiểu ư, Hastings? Tôi xin giải thích: Wilson không bị đầu độc, mà bị điện giật chết. Một trong những quân cờ có một dây kim loại xuyên qua. Chiếc bàn được chuẩn bị trước và đặt ở một điểm nhất định. Khi quân cờ nói trên được đặt vào một trong những ô trắng tráng bạc, dòng điện chạy qua người Wilson, làm anh ta chết ngay. Dấu hiệu duy nhất là vết cháy ở bàn tay trái vì Wilson thuận tay trái. Trong chiếc bàn - đồng thời là bàn cờ - gài một thiết bị cực kỳ tinh xảo. Tuy nhiên, xin chú ý là chiếc bàn đưa cho ta xem vừa rồi là một chiếc thứ hai hoàn toàn vô hại, ngươi ta đã tráo nó vào sau vụ ám sát. Tất cả được chuẩn bị trong căn hộ ở tầng dưới, vừa được cho thuê lại, nhưng ít nhất trong nhà giáo sư Savaronoff phải có một tòng phạm. Trước tiên, phải coi cô gái xinh đẹp nọ là một tay chân của lũ Bốn Người. Cô ta mưu mô thừa kế gia sản của giáo sư.
- Còn Ivan?
- Tôi ngờ hắn chính là "Số Bốn”.
- Hắn?
- Phải. Hắn đóng kịch rất giỏi, biết sắm đủ loại vai!
Tôi nhớ lại các vụ đã xảy ra: nhân viên nhà thương điên, anh hàng thịt, bác sĩ Quentin... Những nhân vật đa dạng khác nhau!
- Thật lạ - cuối cùng tôi nói - tất cả đều khớp. Savaronoff ngờ ngợ có âm mưu, nên tỏ ra không hào hứng với cuộc đấu.
Sau khi nhìn tôi không nói, Poirot bắt đầu đi đi lại lại. Bỗng anh hỏi tôi:
- Liệu anh có cuốn sách dạy chơi cờ nào không?
- Có thể có.
Phải mất một thời gian tôi mới kiếm được. Lập tức Poirot đàng hoàng ngồi vào ghế, đọc chăm chú.
Mười lăm phút sau, chuông điện thoại reo. Tôi cầm máy: đó là Japp. Ivan đã ra khỏi nhã với một gói to. Hắn nhảy lên tắc xi đợi sẵn, nhưng cảnh sát đã bám theo. Tưởng đã đánh lạc hướng cảnh sát, Ivan vào một ngôi nhà lớn, không có người ở, ở Hampstead. Ngôi nhà đã bị bao vây.
Tôi nói lại tất cả cho Poirot. Anh nhìn tôi như tưởng tôi nói gì khó hiểu. Tiếp đó, anh chìa cuốn sách đánh cờ:
- Anh nghe tôi đây, đây là luật chơi tên gọi “Ruy Lopez": 1. vua đi 4 ô, vua đi 4 nữa; 2. mã - vua - hề đi 3, mã - hậu - hề đi 3; 3. hề - mã đi 5. Vấn đề đặt ra là: quân đen sẽ đi nước thứ ba thế nào? Có nhiều cách đi. Chính nước thứ ba của quân trắng đã giết chết Gilmour Wilson; 3. hề - mã 5. Nước thứ ba... anh không thấy gì sao?
Tôi hoàn toàn không hiểu một tí gì.
- Anh Hastings, giả thử anh đang ngồi ở ghế này mà nghe tiếng cửa ra vào mở rồi đóng lại, thì anh có ý nghĩ gì?
- Răng có người vừa đi ra.
- Đúng. Nhưng bao giờ cũng có hai cách nhìn nhận sự vật; hoặc có người ra... hoặc có người vào. Hai trường hợp khác hẳn nhau! Nếu anh chọn không đúng, sẽ có một chút mâu thuẫn nhỏ chứng minh rằng anh lầm.
- Thế là nghĩa gì, anh Poirot?
Poirot vụt đứng lên.
- Nó chứng tỏ rằng tôi không tinh! Mau, ta phải quay lại căn hộ Westminster. May ra còn kịp.
Chúng tôi nhảy lên tắc xi. Bạn tôi câm như hến, hỏi gì cũng không đáp. Chúng tôi nhảy thang gác bốn bậc một. Nhưng vô ích, bấm chuông, gõ cửa, cửa vẫn đóng im lìm.
Tuy nhiên, áp tai vào vách, nghe như có tiếng rên rỉ ở bên trong.
Thương lượng mất nhiều thời gian, ông quản gia mới chịu dùng khóa riêng mở cửa. Mùi thuốc mê chloroforme phả ra; Sonia Daviloff nằm vật trên sàn, mồm bị nhét giẻ, tay chân bị trói. Mũi, mồm bị nắm bông tẩm thuốc mê phủ kín. Poirot giật ra và cố làm cô gái hồi tỉnh trong khi cho đi mời gấp bác sĩ. Chúng tôi tìm khắp các phòng khác, không thấy giáo sư Savaronoff.
- Thế này là nghĩa gì? - tôi hoang mang, hỏi.
- Nghĩa là trong hai cách suy diễn, tôi đã chọn cách không đúng. Tôi đã nói bất kỳ ai cũng dễ dàng nhận mình là cháu gái Savaronoff, vì ông ta không gặp mặt cháu từ nhiều năm. Hừ! Lẽ ra phải nghĩ điều ngược lại! Bất kỳ kẻ nào cũng dễ dàng nhận mình là ông chú.
- Anh nói sao?
- Đúng thế. Savaronoff đã chết từ lâu. Con người nói là đã chịu nhiều cay đắng, đã tiều tụy đi vì trải qua đau khổ, con người đã thừa hưởng gia tài khổng lồ…
- Là ai? Hắn là ai?
- Là "Số Bốn". Không lấy làm lạ hắn tỏ ra hoảng sợ khi Sonia nói đến bọn Bốn Người. Một lẫn nữa hắn lại tuột khỏi tay tôi. Hắn hiểu là cuối cũng tôi sẽ đánh hơi thấy, vì vậy hắn sai Ivan đi để đánh lạc hướng, vô hiệu hoá cô gái rồi bỏ trốn. Giờ này chắc hắn đã chuyển gần hết các chứng khoán bà Gospoja để lại.
- Nhưng... như vậy, thì ai định giết hắn?
- Không ai cả! Wilson đúng là nạn nhân bị ngắm.
- Nhằm mục đích gì?
- Bạn ơi, Savaronoff là người giỏi cờ thứ hai thế giới, mà "Số Bốn" chắc là không biết tí gì về môn thể thao này, nên không thể theo đuổi cuộc chơi. Hắn đã tìm mọi cách để tránh, đến khi buộc phải nhận thì số phận Wilson đã được định đoạt. Bằng bất kỳ giá nào, phải không cho mọi người biết Savaronoff không hiểu gì về cờ. Mọi người đều biết Wilson bao giờ cũng ra quân bằng miếng “Ruy Lopez", do đó đến nước thứ ba, "Số Bốn" quyết định chấm dứt, khỏi phải đi sâu hơn nữa.
- Nhưng, phải chăng đây là một tên điên loạn?
- Lập luận của anh khá chặt chẽ, nhưng người ta đâu có giết người chỉ để bảo toàn vai trò của mình! Còn nhiều cách khác, ví dụ viện cớ ốm đau, bác sĩ tuyệt đối cấm chơi cờ...
Poirot cau mày:
- Tất nhiên, có nhiều cách khác nhau, song cách này theo hắn là tốt nhất. Hơn nữa, chớ quên rằng “Số Bốn” không nhìn đời bằng con mắt của anh, với hắn tính mạng một người đâu có quan trọng. Hãy thử đặt mình vào vị trí của hắn - điều mà anh không thể làm - tôi hình dung những suy nghĩ của hắn. Bản thân việc giả danh thành Savaronoff làm hắn thích thú; chắc chắn đã từng xem nhiều cuộc cờ để nghiên cứu vai của mình, hắn ngồi đó, nghiêm nghị suy tư, khiến cho khán giả tưởng hắn đang tính toán những nước cờ phức tạp, trò hề đó khiến hắn cười thầm trong bụng. Hắn biết mình không thể đi qua nước thứ hai, nhưng chỉ hai nước đó là đủ. Hắn mừng thầm về kết cục biết trước: đối thủ sẽ kết liễu mình, vào thời điểm do hắn định ra. "Số Bốn", Kẻ Tiêu diệt đã trừ khử thêm một mạng nữa... Anh Hastings ạ, tôi bắt đầu hiểu rõ con người và tâm lý của hắn.
Hết lý, tôi đành chịu thua.
- Tôi sẵn lòng tin là anh đúng, nhưng tôi không hiểu sao hắn chịu mạo hiểm thế, trong khi có thể dễ tránh được?
- Anh bảo mạo hiểm chỗ nào? - Poirot nói. Anh thử nói xem, ở chỗ nào. Japp liệu có giải mã được bí ẩn đó? Không! Nếu "Số Bốn" không phạm một sai lầm nhỏ, thì sẽ không mảy may nguy hiểm gì.
- Vậy hắn phạm sai lầm gì? - tôi hỏi mà đã đoán được câu trả lời.
- Hắn không tính đến chất xám của Hercule Poirot!
Poirot có rất nhiều đức tính, nhưng khiêm tốn lại là điều anh thiếu!
Agatha Christie
Bộ Tứ
Người dịch: DƯƠNG LINH
Chưong XII
CÁI BẪY SẬP
Giữa tháng giêng, một ngày đông London ẩm ướt và nhớp nháp, Poirot và tôi ngồi bên lò sưởi. Tôi cảm thấy ông bạn nhìn tôi và mỉm cười ngộ nghĩnh, nhưng không đoán được lý do.
- Tôi sẵn sàng đánh đổi hai xu để biết anh nghĩ gì,
- Tôi nghĩ lúc anh mới đến, vào mùa hè, anh bảo anh chỉ ở lại nước Anh hai tháng là cùng.
- Tôi nói thế ư? Không nhớ.
Nụ cười Poirot nở rộng:
- Tôi nhớ rõ. Nhớ mọi thứ là việc của tôi, đâu phải việc anh. Tôi đồ rằng từ đó anh đã thay đổi kế hoạch?
- Ờ...! Có như vậy.
- Và tại sao?
- Nếu anh muốn biết, thật đơn giản! Tôi không muốn bỏ anh khi anh đang phải giao tranh với những địch thủ đáng gờm như bọn Bốn Người.
Poirot nghiêng đầu một cách khả ái.
- Tôi cũng nghĩ là như thế. Hastings, anh là một người bạn tận tụy! Nhưng chị ấy, "cô bé lọ lem" như anh gọi, chị ấy nghĩ sao?
- Tôi không kể lể chi tiết, nhưng nhà tôi hiểu tôi lắm. Cô ấy là người cuối cùng yêu cầu tôi bỏ rơi bạn!
- Thật đáng quý! Đáng quý! Nhưng Hastings này, vụ việc còn có thể kéo dài.
Tôi ngao ngán, ra hiệu là đúng như thế. Rồi nói nhỏ:
- Sáu tháng đã qua đi, mà chúng ta tiến đến đâu? Anh Poirot, tôi trộm nghĩ... chúng ta phải làm một cái gì.
- Đúng là tính sục sôi hăng máu của anh. Nhưng anh định hành động theo hướng nào?
Câu hỏi oái ăm. Nhưng tôi quyết không bỏ rơi vị trí. Tôi gợi ý:
- Phải chuyển sang tấn công. Đến nay chúng ta chỉ ngồi im.
- Không ngồi im như anh tưởng đâu. Đừng quên chúng ta đã xác định danh tính của "Số Hai" và “Số Ba" và đã quan sát thoải mái - nếu có thể nói vậy - các phương pháp của "Số Bốn". Chúng ta đã đi được quãng đường không nhỏ. Đành rằng ta chưa thể tố cáo đích danh Ryland hay bà Olivier... và ai sẽ tin ta? À, tôi đã kể với anh là tôi đã phát biểu những nghi ngờ của mình với một số nhân vật ở cấp cao, trong đó có ngài Aldington chưa nhỉ? Tôi đã làm việc với ông ta trong vụ đánh cắp sơ đồ tàu ngầm, ông ấy biết phương pháp của tôi và rất tin tôi. Lúc này ông đã được thông báo về bí ẩn của Bộ Tứ, và nếu một số người còn chưa tin, thì ông ấy tin! Ryland, bà Olivier và Li Chang-yen có thể có hành động, nhưng nhất cử nhất động của chúng được giám sát chặt chẽ.
- Aldington cũng biết sự tồn tại của "Số Bốn"?
- Như vừa nói, tôi mới bắt đầu hiểu cung cách của hắn. Anh cứ cười đi, Hastings, tôi vẫn tin chắc đó là cách làm tốt nhất. Tôi cần biết rõ tính cách của con người này đến mức có thể đoán trước các phản ứng của hắn trong trường hợp này hay trường hợp khác. Chớ quên rằng ta đang đấu tay đôi với hắn. Bao giờ tôi cũng cẩn thận tìm hiểu tâm tính đối thủ, mà không lộ ra cho hắn biết cách nghĩ của mình. Hắn thì ở ngoài ánh sáng, còn tôi đứng trong bóng tối. Tin chắc rằng chúng sẽ càng ngày càng lạ về sự bất động bề ngoài của tôi. Điều chắc, là chúng sẽ để ta yên, chúng không âm mưu hãm hại mình nữa, không giăng bẫy mới nữa, và nói thực ra tôi hơi lấy làm lạ. Hẳn chúng sẽ nẩy ra ý kiến dùng một hay hai cách để tiếp cận chúng ta. Anh hiểu chứ?
- Một khối bom nổ chẳng hạn?
Poirot có vẻ bực mình.
- Ồ không! Tôi để cho anh tưởng tượng, thì anh không nghĩ ra cái gì khác hơn là bom đặt trong lò sưởi! Ôi! Hastings! Hastings! Thôi! Dù thời tiết xấu, tôi sẽ đi dạo một chút cho tĩnh tâm, nhân tiện mua ít diêm. À này, anh đọc củng một lúc các sách: Tương lai Áchentina, Tấm gương xã hội, Nuôi gia súc có sừng, Con đường đỏ và Thể thao trên núi Rocheuses à?
Tôi phá lên cười, nhận là đang đọc cuốn Con đường đỏ.
- Nếu vậy, xếp các cuốn khác vào chỗ cũ. Khổ lắm, bao giơ anh mới có trật tự và phương pháp! Tủ sách dùng để làm gì?
Tôi thực lòng xin lỗi. Sau khi xếp lại sách, Poirot đi ra, để mặc tôi với thứ nghiền ngẫm văn chương.
Tôi hy vọng tác giả Con đường đỏ sẽ lượng thứ cho tôi, nếu tôi thú nhận lúc bà Pearson gõ cửa, tôi đang ngủ gà ngủ gật.
- Thưa đại uý, có một bức điện.
Tôi thong thả mở bức điện, nghĩ rằng chẳng có gì quan trọng. Nhưng nội dung của nó làm tôi thực sự hốt hoảng.
Điện do Bronsen, người quản lý ấp trại của tôi ở Áchentina, gửi. Điện như sau:
“Bà Hastings mất tích hôm qua. Nghi bà bị một băng, tên là "Bộ Tứ Vĩ Đại" bắt cóc. Cho biết cần làm gì. Đã báo cảnh sát. Chưa dấu vết gì.
BRONSEN”
Tôi ra hiệu cho bà Pearson lui. Đầu óc choáng váng, tôi đọc đi đọc lại. Lọ lem bị bắt cóc! Lọ lem trong tay bọn Bốn Người? Phải làm gì? Poirot đâu, tôi còn có Poirot để chỉ bảo, để phá tan mưu đồ quỷ quái. Hãy bình tĩnh. Poirot sắp về ngay bây giờ.
Lại có tiếng gõ cửa, và bà Pearson lại xuất hiện.
- Có thư cho đại uý. Một người Trung Quốc mang đến. Hắn đợi dưới nhà.
Tôi cầm bức thư, nội dung ngắn gọn, rõ ràng:
“Nếu ông muốn gặp lại bà nhà, hãy đi theo ngay người cầm giấy này. Và không được báo cho bạn ông. Nếu không bà nhà sẽ trả giá”.
Bên dưới có một số 4 to tướng.
Các bạn đã đọc mảnh thư, nếu là tôi các bạn sẽ làm gì?
Tôi không có thì giờ để suy nghĩ, chỉ thấy có một điều: Lọ lem ở trong tay bọn cướp. Tôi làm theo.
Không thể để vợ tôi bị tra tấn, hành hạ, tôi chỉ còn có cách đi theo tên người Tàu, hắn đưa đi đâu thì đi.
Có thể đây là cái bẫy, tôi sẽ bị bắt, sẽ chết. Nhưng đây liên quan đến người thân yêu nhất đời, tôi không thể ngần ngừ.
Nếu tôi để lại vài chữ cho Poirot! Đó là dấu tích để anh theo mà giải quyết mọi chuyện. Có nên thử không?
Nên lắm... nhưng nếu tên Tàu lên đây để chắc chắn rằng tôi làm đúng theo lời dặn?
Việc hắn đứng lại dưới nhà càng làm tôi lo lắng. Tôi biết bọn Bốn Người rất mạnh, mạnh đến mức tôi sẵn sàng gán cho chúng quyền năng tuyệt đối. Dường như bất cứ ai đến gần tôi lúc này đều là tay chân của chúng!
Hay tôi để lại bức điện? Trông thấy, Poirot sẽ biết hết mọi chuyện.
Tất cả những ý nghĩ ấy giao nhau trong đầu tôi loang loáng, nói ra không kịp.
Hai phút sau khi nhận thư, tôi đội mũ, mặc áo khoác xuống gặp tên liên lạc đang đợi. Đó là một người Trung Hoa to lớn, ăn mặc chỉnh tề, dù quần áo có hơi cũ nát. Không động đậy nét mặt, hắn chào tôi và hỏi:
- Ông, đại uý Hastings?
- Phải - tôi đáp.
- Trả tôi thư...
Đã lường trước việc này, nên tôi nộp lá thư, không nói.
- Đã nhận điện hôm nay, có không? Điện từ Áchentina?
Lòng đầy căm giận, một lần nữa tôi phải khâm phục mạng lưới gián điệp tinh vi của chúng... Chúng đã đoán là Bronsen sẽ đánh điện cho tôi và quyết định thừa cơ gây áp lực.
Chối một điều rõ ràng và có thực, là vô ích:
- Có, tôi có nhận một bức điện.
- Lấy đưa ngay cho tôi!
Giận run ngươi, song tôi phải thi hành.
Lúc lên gác, tôi nẩy ra ý phải báo cho bà Pearson tin vợ tôi bị bắt cóc, nhưng thấy cô hầu gái đứng bên bà chủ nhà, tôi lại do dự... cô hầu này đang theo dõi tôi chăng? Lời lẽ trong thư của lũ Bốn Người còn in rõ trong ức tôi... Tôi quyết định không nói gì.
Sau khi cầm bức điện, tôi chuẩn bị đi xuống, thì chợt nẩy ra ý nghĩ: tôi có thể để lại dấu hiệu gì báo Poirot biết, mà kẻ thù không nhận ra?
Tôi chạy tới tủ sách và làm rơi bốn cuốn xuống sàn. Bạn tôi sẽ thấy, và sau bài học về trật tự vừa lên lớp lúc nãy, hẳn anh sẽ rất bực mình.
Ngoài ra, tôi còn xúc thêm một xẻng than vào lò sưởi và cố tình để rơi vãi bốn hòn ra ngoài.
Tối không thể làm gì khác nữa. Chỉ còn mong là những dấu hiệu ấy được Poirot cảm nhận đúng đắn.
Tôi vội đi xuống, trao bức điện từ Áchentina cho tên liên lạc Trung Quốc; hắn đọc qua, bỏ vào túi ra hiệu cho tôi đi theo.
Sau khi đi bộ một quãng dài, chúng tôi lên xe buýt, rồi xe điện. Hướng về phía đông, chúng tôi đi qua những khu phố lạ lẫm chưa từng biết bao giờ.
Ra đến cảng, tôi hiểu mình đang ở giữa khu phố Tàu.
Chúng tôi đi vào một vùng nhằng nhịt những phố hẹp và ngõ cụt, nhà cửa tồi tàn, thảm hại, cuối cùng dừng trước một ngôi nhà ọp ẹp. Tên liên lạc gõ vào cửa bốn tiếng, một người Tàu khác mở cửa ngay và né sang bên để chúng tôi vào.
Tiếng chốt cửa kéo sau lưng tôi vang lên như chấm dứt hy vọng cuối cùng. Tôi đã ở trong tay kẻ thù.
Tên Tàu thứ hai dẫn tôi bước mấy bậc thang lung lay đưa xuống một căn hầm chất đầy thùng, hòm từ đó bốc lên mùi hăng hăng của gia vị.
Tôi cảm thấy mình bị bao vây bởi môi trường phương đông bí hiểm và bi thảm.
Tên dẫn đường đẩy sang bên hai chiếc thùng to để lộ ra dưới chân tường một lối vào thấp như kiểu đường hầm. Hắn ra hiệu cho tôi đi vào, và tôi đi theo một hành lang dài, thấp đến nỗi phải khom lưng không thể đứng thẳng. Chẳng bao lâu tôi tới một căn hầm khác.
Tên Tàu gõ bốn tiếng vào một mảng tường, lập tức nó chuyển động như phông màn sâu khấu. Trước mắt tôi là một lâu đài kiểu Nghìn lẻ một đêm.
Phòng dài và thấp, giát toàn đồ thêu lộng lẫy, đèn sáng trưng. Những mùi hương là lạ phảng phất trên không. Toàn bộ đồ đạc gồm năm, sáu chiếc giường và những tấm thảm tuyệt đẹp.
Sau một tấm màn, có tiếng nói vọng ra:
- Khách đến chưa?
- Dạ đã - tên dẫn đường đáp.
- Mời vào!
Bức màn vén lên; trong cái hốc mà nó che khuất là một giường lớn chất đầy gối, nệm. Ngự trên đó là một người châu Á cao, mảnh, mặc bộ quần áo thêu rực rỡ. Nhìn những móng tay để rất dài, tôi hiểu mình đứng trước một nhân vật quan trọng. Hắn phẩy tay làm hiệu:
- Đại úy Hastings, mời ông ngồi. Tôi rất vui là ông quá bộ đến thăm.
- Ông là Li Chang-yen? - Tôi hỏi.
- Ồ không, tôi chỉ là một trong những kẻ phục vụ Người. Tôi chỉ làm theo lệnh của Người, cũng như các đồng nghiệp của tôi ở khắp nơi. Ở Áchentina chẳng hạn.
Tôi tiến lên một bước:
- Vợ tôi đâu? Ông làm gì vợ tôi?
- Bà ấy ở nơi an toàn, không ai tìm thấy được. Đến lúc này bà nhà chưa làm sao cả. Ông nghe rõ chứ: đến lúc này.
Trán tôi toát mô hôi lạnh. Tôi nhìn đăm đăm vào tên quỷ phương Đông, hắn cười mà cứ như nhăn mặt.
- Ông muốn gì? - Tôi kêu lên - Tiền?
- Đại uý Hastings thân mến, chúng tôi không muốn tước mất của ông số tiền tiết kiệm nhỏ nhoi. Ông vừa nghĩ ra một câu hỏi thông minh đấy... Bạn ông chắc không đặt câu hỏi như thế.
Tôi dằn từng tiếng:
- Tôi cho rằng ông muốn giăng bẫy bắt tôi? Vậy là làm được rồi! Ông xử tôi thế nào cũng được, nhưng xin thả vợ tôi ra. Bà ấy không biết gì hết, do đó giữ không ích gì, ông đã dùng bà ấy để bắt tôi, nay được rồi, hãy trả tự do cho bà.
Đối thủ của tôi khẽ xoa má, nghiêng mắt nhìn tôi nói, giọng mơn trớn:
- Ông vội quá! Và hơi có chút hiểu lầm những ý định của chúng tôi. Mục đích không phải là bắt ông, mà là qua ông, bắt được ông Hereule Poirot, bạn ông.
- Sợ rằng khó đấy - tôi cười khẩy.
- Tôi đề nghị thế này - hắn nói tiếp, như không nghe thấy lời tôi - Ông sẽ viết thư cho ông Hercule Poirot, nhắn đến đây gặp ông.
- Không đời nào tôi làm việc ấy!
- Từ chối thì hậu quả vô cùng tai hại...
- Mặc xác ông đe doạ! -
- Ông muốn chết ư?
Tôi cố kìm không để lộ nỗi kinh hãi.
- Ông ép tôi vô ích. Cảnh sát sẽ đến đây bây giờ.
Tên đệ tử của Li Chang-yen vỗ tay một cái, và hai tên tay sai hiện nhanh như chớp. Mỗi đứa giữ một tay tôi. Chủ chúng ra lệnh bằng tiếng Trung Quốc, và chúng kéo tôi vào một góc.
Một thằng cúi xuống và đột nhiên tôi thấy đất sụt dưới chân. Nếu thằng thứ hai không níu lại, ắt tôi đã lao xuống cái vực thăm thẳm vừa mở ra, từ đó vang lên tiếng ầm ào của thác nước.
- Ông nghe tiếng sông chảy đó - người ngồi trên giường lại nói. Hãy suy nghĩ, đại uý Hastings! Nếu ông cứ từ chối, ông sẽ lao đầu xuống cõi vĩnh hằng! Dòng nước tối tăm vĩnh viễn cuốn ông đi. Một lần cuối, ông chịu viết thư không?
Tôi không tự coi là mình dũng cảm hơn số đông đồng loại, và thẳng thắn thú nhận mình sợ hãi thực sự. Rõ ràng tên này nói nghiêm chỉnh; tôi không tuân theo thì nhất định vĩnh biệt cõi đời này. Tôi đáp, cố giữ giọng mạnh bạo:
- Không! Quỷ tha ma bắt cái thư của ông!
Rồi bất giác, tôi nhắm mắt, lẩm nhẩm cầu nguyện.
Agatha Christie
Bộ Tứ
Người dịch: DƯƠNG LINH
Chưong XIII
ĐI TỚI CÁI BẪY
Hiếm khi nào tôi lại ở gần kề cái chết đến vậy. Khi từ chối đề nghị của tên người Tàu, tôi có cảm tưởng mình nói những lời cuối cùng trên trái đất này.
Tôi sẵn sàng rơi xuống dòng thác đang sủi bọt dưới chân; tôi nghĩ mình đã chết ngạt...Tôi xin trao hồn mình cho Chúa.
Tôi ngạc nhiên nghe một tiếng cười ngắn. Tôi mở mắt, thấy người trên giường ra hiệu cho hai tên tay chân kéo tôi lên. Hắn nói:
- Đại uý Hastings, ông là người can đảm, đức tính ấy, người phương Đông chúng tôi rất quý. Và tôi cũng đã lường trước. Bây giờ ta sang màn hai của vở kịch. Ông đã đối mặt với cái chết của chính mình; vậy ông có muốn đối đầu nữa vì một ngươi khác?
- Ông định nói gì? - Tôi hỏi.
Nỗi sợ hãi kinh hoàng lại chạy xuyên người tôi.
- Ông chắc chưa quên bà nhà đang ở trong tay chúng tôi.
Tôi nhìn hắn hãi hùng đến mức không nói nên lời.
- Tôi tin là ông sẽ viết ngay lá thư đó. Đây, tôi có một mẫu điện sẵn, ông chỉ cần viết vào thôi. Chớ quên là vợ ông nằm trong tay chúng tôi.
Vẫn với vẻ trầm tĩnh lạnh lùng và giọng nói ngọt ngào, tên đao phủ nói tiếp:
- Đại uý, bút đây, viết đi, nếu không...
- Nếu không thì sao?
- Thì người phụ nữ mà ông yêu dấu sẽ chết: chết từ từ, chết đau đớn. Người thầy của tôi, ông Li Chang-yen, trong lúc rảnh, hay nghĩ ra nhiều kiểu nhục hình mới.
- Trời đất! - tôi kêu - Đồ khốn! Các người không được làm thế...
- Tôi có cần phải kể ra vài phát minh mới ấy?
Không thèm để ý những lỡi công phẫn của tôi, hắn bắt đầu bình thản mô tả đủ loại nhục hình tàn ác. Cuối cùng tôi bịt tai, hét lên khủng khiếp.
- Thế đã đủ rồi, hả đại uý Hastings? Vậy thì, cầm bút viết đi.
- Không bao giờ các ngươi dám...
- Ông biết là chúng tôi dám tất cả. Viết mau đi.
- Và trong trường hợp ấy?
- Vợ ông sẽ được tự do. Lệnh thả bà ta sẽ được phát đi ngay.
- Làm sao tôi tin rằng các ông sẽ giữ lời hứa?
- Tôi xin thề trên mồ mả thiêng liêng của tổ tiên. Ông nghĩ xem: chúng tôi hại bà ấy làm gì, một khi mục đích đã đạt?
- Còn ... Poirot?
- Chúng tôi giữ ông ấy ở nơi an toàn cho đến khi chiến dịch kết thúc. Sau đó, ông ấy có thể đi.
- Ông cũng thề như thế nữa?
- Tôi xin thề. Thế đủ chưa?
Tôi mềm lòng, tôi sắp phản bạn... để dẫn anh tới số phận nào? Tôi vẫn còn đo dự, song hậu quả ghê gớm nếu tôi từ chối trở lại óc tôi như một ác mộng.
Tôi nhún vai, chuẩn bị viết. Có thể viết khéo léo cách nào đó, tôi sẽ bắn tin được cho Poirot mà tránh cái bẫy. Hy vọng cuối cùng của tôi là ở đó. Nhưng nó bị dập tắt ngay, vì cái giọng ngọt ngào lại cất lên:
- Để tôi đọc ông viết.
Hắn nhìn giấy tờ đặt trước mặt, bắt đầu:
- Anh Poirot thân mến, tôi nghĩ đã dò ra dấu vết của bọn Bốn Người. Một người Tàu đến gặp tôi trưa nay và nhử tôi đến đây bằng một lá thư giả mạo. May thay, tôi đã phát hiện âm mưu và chạy thoát. Tôi đã đảo ngược các vai trò và nghĩ đã thành công. Tôi viết mấy chữ này nhờ một thanh niên chuyển đến anh, nếu cậu ta đưa tới nơi thì anh đãi cậu ta ít tiền, tôi đã hứa thế rồi. Tôi đang theo dõi ngôi nhà, không dám rời xa. Tôi sẽ đợi anh cho tới sáu giờ, quá giờ đó mà anh không tới, tôi sẽ đột nhập một mình. Cơ hội quá tốt không thể bỏ lỡ, dù thư này không đến tay anh. Còn nếu, như tôi hy vọng, cậu ta gặp được anh, hãy bảo cậu ta đưa anh đến. Hãy cải trang, bỏ râu mép đi, kẻo có kẻ nào đứng rình trên cửa sổ, hắn sẽ nhận ra anh.
Thân ái. A.H.
Mỗi chữ tăng thêm sự thất vọng trong tôi. Bọn Bốn Người vô cùng nham hiểm. Chúng hiểu từng chi tiết mối quan hệ của chúng tôi. Nêu tự viết, tôi cũng sẽ viết như thế. Việc nói đến tên Tàu gặp tôi và nhử tôi làm vô hiệu hoá dấu hiệu tôi để lại: bốn cuốn sách vứt dưới đất lúc tôi đi không còn tác dụng.
Chúng đã giăng bẫy tôi và tôi kịp thời phát hiện. Poirot sẽ hiểu như thế. Giờ giấc cũng được tính toán: nhận được thư, Poirot có đủ thì giờ chạy tới, do tên nọ dẫn đường. Không muốn để tôi đột nhập một mình. Poirot sẽ không do dự đến ngay để chỉ huy chiến dịch.
Tôi viết xong, tên kia cầm thư, đọc lại, gật gù và đưa cho một tên tay sai mang đi. Vẫn mỉm cười êm ái, hắn cầm một mẫu điện, điền chữ vào, đưa tôi xem. Tôi đọc:
“Thả ngay người đàn bà da trắng”.
Tôi thở phào nhẹ nhõm.
- Ông gửi ngay chứ?
Hắn mỉm cười, lắc đầu:
- Gửi ngay khi ông Hercule Poirot đến đây. Còn trước đó…
- Nhưng ông đã hứa...
- Nếu kế hoạch không thành, tôi còn cần đến vợ ông để thúc đẩy ông làm một số việc khác.
Tôi tái mặt vì giận:
- Nếu làm sao...
Hắn giơ một tay lên:
- Ông yên tâm, tôi không tin là kế hoạch thất bại, và tôi sẽ giữ lỡi hứa.
- Nếu ông không giữ...
- Tôi đã thề trên mồ mả tổ tiên. Đừng sợ gì. Ông cứ ở đây, có bọn gia nhân trông nom khi tôi đi vắng.
Chúng để tôi một mình trong cái hang ổ lạ lùng và sang trọng dưới đất này. Một tên gia nhân trở lại với một mâm toàn đồ giải khát. Nhưng tôi hồi hộp không thể ăn uống gì.
Lát sau, tên chủ trở vào, to lớn, oai vệ trong bộ đồ lụa. Theo lệnh hắn, tôi được dẫn qua hành lang trở về ngôi nhà vào lúc đầu. Tôi ở một phòng dưới nhà, cửa chớp đóng nhưng qua khe có thể nhìn ra phố.
Một lão gia quần áo rách rưới đi đi lại lại trên vỉa hè đối diện; thấy hắn ra hiệu về phía ngôi nhà, tôi hiểu hắn là tên đứng gác.
Tên Trung Quốc cúi xuống gần tôi:
- Thành công rồi! Hercule Poirot đã sa bẫy. Ông ta đang đến, đi theo người dẫn đường. Bây giờ, ông còn phải sắm một vai nữa. Ông sẽ ra đứng trước bậc cửa và ra hiệu cho ông ta vào.
- Sao? - Tôi công phẫn.
- Ông chỉ có một mình! Nhưng hãy nhờ điều gì sẽ xảy ra với vợ ông nếu ông không làm tròn nhiệm vụ! Nếu Hercule Poirot có chút mảy may nghi ngờ và không bước vào, vợ ông sẽ chết trong muôn ngàn cực hình. Cẩn thận, ông ta đến.
Lòng đau đớn vì bị giằng xé dữ dội, qua khe cửa chớp tôi nhận ra bạn tôi đang đi trước mặt. Cổ áo kéo cao, khăn quàng vàng che kín nửa mặt dưới; nhưng không thể lầm được, đúng là dáng đi ấy, bộ điệu ấy, và cái đầu tròn như chiếc kẹo. Poirot hào hiệp đến cứu tôi, không biết là tôi đang phản bạn. Cạnh anh, một cậu bé đặc London đưa tay chỉ ngôi nhà.
Tôi đi ra phía hiên nhà và, thừa lệnh của chủ, một tên Trung Quốc mở cửa. Sau tôi là tiếng nói nhỏ:
- Nhớ là vợ ông sẽ phải trả giá thế nào.
Tôi đã ra ngoài cửa, và ra hiệu, Poirot vội bước sang đường.
- A! A! Anh bạn Hastings, vẫn nguyên vẹn? Tôi lo quá! Anh đã đột nhập chưa? Vậy trong nhà không có ai?
- Phải - tôi nói, cố làm ra tự nhiên. Chắc nhà có lối ra bí mật. Vào đây, ta cùng tìm.
Tôi lại vào trong cửa và Poirot không hay biết gì, sắp bước vào theo.
Lúc nay, tôi không đừng được nữa: đầu tôi như sắp nổ tung: tôi nhổ vào cái vai Giu-đa mà tôi đang sắm.
- Lùi lại, Poirot - tôi kêu - Lùi lại, nguy hiểm! Đây là cái bẫy. Hãy mặc tôi. Chạy mau!
Trong khi tôi nói, hay đúng hơn tôi hét, tôi bị những bàn tay tàn bạo tóm chặt. Một tên tay sai vội lao ra phố hòng bắt Poirot. Anh vung tay, lùi về phía sau: đột nhiên tôi thấy mình bị trùm một làn khói đặc làm cho sặc sụa... Tôi gục xuống... Phen này chết thật rồi...
* * *
Tôi tỉnh lại một cách từ từ, vất vả, và lờ mờ thấy bộ mặt Poirot lo lắng cúi xuống. Anh reo lên khi thấy tôi mở mắt.
- A! Hồi tỉnh rồi! ... Anh bạn tội nghiệp!
- Tôi đang ở đâu? - Tôi khó nhọc hỏi.
- Ở nhà anh! Ở nhà chúng ta!
Tôi nhìn quanh mình và ngạc nhiên nhận ra căn hộ của mình. Trước lò sưởi, vẫn còn bốn hòn than.
Poirot nhìn theo tôi:
- Ồ, đúng là một ý kiến tuyệt vời của anh... Cũng như bốn quyển sách! Nếu ai bảo rằng anh không phải là một bộ óc vĩ đại, tôi sẽ nói là hắn nói láo!
- Vậy ra anh đã hiểu tôi muốn nhắn gì?
- Chả lẽ tôi lại ngu vậy? Hiểu chứ! Anh báo hiệu thế là tốt, tôi kịp có thì giờ định kế hoạch. Tôi đã hiểu là anh bị bọn Bốn Người bắt đi. Nhằm mục đích gì? Không phải vì đôi mắt xanh của anh! Cũng không phải vì chúng sợ anh và muốn trừ khử anh. Không! Mục đích đã rõ. Các vị này sử dụng anh như con mồi để vươn tới Hercule Poirot vĩ đại. Từ lâu tôi đã chờ đợi một việc tương tự. Cho nên tôi đã chuẩn bị, và khi tên liên lạc bé con tới - tên này chỉ là một chú bé London vô tội - Tôi làm như không nghi ngờ gì và đi theo chú ta. May sao chúng lại cho anh đứng ngay trước bậc cửa! Tôi cứ sợ phải tiêu diệt chúng rồi mới cứu được anh.
- Tiêu diệt chúng - Tôi hỏi yếu ớt - Bằng cách nào?
- Ồ! Cũng không khó lắm. Tôi đã chuẩn bị trước mọi thứ. Anh biết khẩu hiệu của hướng đạo sinh: "Luôn sẵn sàng"? Tôi làm như thế. Trong số bạn bè, tôi có một nhà hoá học chuyện về hơi ngạt: anh ta làm cho tôi một quả bom nhỏ dễ mang, chỉ cần ném ra, ai thở phải hơi ngạt sẽ lăn ra bất tỉnh. Anh đã được thử nghiệm rồi đó! Ném bom rồi tôi huýt một tiếng, người của Japp vẫn bí mật theo tôi, lập tức lan tới. Họ rất thông minh, năng động.
- Vì sao anh không bị khói bom làm hại?
- Lại là một mẹo nhỏ, ông bạn quý của anh tên "Số Bốn” (vì chắc chắn hắn là tác giả đã thảo bức thư khôn khéo) đã nói về bộ ria của tôi: vậy thì chiếc khăn tôi trùm không phải để giấu bộ ria, mà giấu một bình thở dưỡng khí.
Đột nhiên, bao lời đe doạ kinh khủng về số phận của vợ tôi trở về trí óc. Tôi bị trùm trong đám sương mù đỏ máu, và ngất đi.
Khi tôi tỉnh lại lần nữa, Poirot buộc tôi uống chút rượu.
- Anh làm sao vậy?
Dần dã tôi kể anh nghe những gì tôi trải qua. Poirot thốt lên:
- Khổ thân, chắc anh đau đớn lắm! Thế mà tôi không biết. Song hãy yên tâm đi. Mọi việc đều tốt.
- Anh muốn nói là sẽ tìm ra vợ tôi? Nhưng bà ấy ở tận Áchentina, chúng ta đến thì bà ấy chết từ lâu.
- Không, anh không hiểu! Bà ấy không sao. Có bị bắt cóc gì đâu.
- Nhưng rõ ràng tôi nhận được điện của Bronsen!
- Không! Anh nhận một bức điện ký tên Bronsen, đó là việc khác hẳn. Nào, anh có nghĩ rằng một tổ chức như bọn Bốn Người, có tay chân trên khắp thế giới, thừa sức tác động tới anh qua cô Lọ lem mà anh yêu dấu!
- Không, không bao giờ.
- Tôi thì đã nghĩ điều đó và sở dĩ không nói ra, là để anh khỏi lo lắng vô ích...Tuy nhiên tôi đã đi bước trước. Tất cả thư từ của chị ấy gửi cho anh đều mang địa chỉ từ "Rancho", nhưng thực tế từ ba tháng nay chị ấy đã chuyển sang ở một nơi an toàn mà tôi đề nghị.
Tôi trân trân nhìn anh, vẫn không tin:
- Có thực thế không? Hay anh nói thế chỉ để tôi yên tâm?
- Anh hãy tin tôi, Hastings! Chúng đã hành hạ anh bằng một lời nói dối.
Tôi quay mặt. Poirot đặt tay lên vai tôi, giọng anh có một âm điệu tôi chưa từng nghe thấy:
- Anh không thích tôi ôm hôn anh, vậy thì tôi sẽ cư xử như người Anh thực thụ, và không để cho tình cảm lai láng. Tôi chỉ tuyên bố rằng, trong vụ việc vừa rồi, mọi vinh dự đều thuộc về anh. Hạnh phúc thay cho ai có bạn như người bạn tôi đây!
Agatha Christie
Bộ Tứ
Người dịch: DƯƠNG LINH
Chưong XIV
CÔ GÁI TÓC VÀNG
Kết quả chuyến hành động vừa rồi làm tôi rất thất vọng.
Trước tiên, tên cầm đầu đã trốn thoát. Lúc những cảnh sát của Japp lao đến theo tiếng huýt sáo của Poirot, họ tìm thấy bốn tên Trung Quốc nằm bất tỉnh, nhưng trong số đó không có tên đã doạ dẫm tôi.
Giờ đây, tôi nhớ là lúc tôi bị đưa ra bậc cửa để nhử Poirot, thì tên trùm đã lui lại sâu về phía sau. Chắc hắn ở ngoài vòng tác động của hơi ngạt và đã chạy trốn bằng nhiều lối ra bí mật.
Bọn Trung Quốc bị bắt không khai được tin gì có ích. Chúng không biết tí gì về lũ Bốn Người. Họ là những cư dân bình thường của khu phố Tàu, không hề nghe nói đến tên Li chang-yen. Một chủ người Tàu đã thuê họ làm việc, họ không biết gì về công việc riêng tư của chủ.
Hôm sau, tôi hoàn toàn bình phục, trừ một chút nhức đầu. Chúng tôi trở lại cái khu phố đáng gờm để xem lại ngôi nhà tôi bị giam trong đó. Toàn bộ gồm hai nhà cũ kỹ, nứt nẻ, nối nhau bằng một hành lang ngầm dưới đất. Tầng trệt và gác trên đều trống không, kính cửa sổ vỡ được thay thế bằng những miếng ván xộc xệch.
Japp xuống hầm lục soát, đã tìm ra bí mật của lối vào hầm ngầm, nơi tôi đã trải qua một thời khắc kinh hoàng. Xem xét kỹ, thấy cảm giác của tôi hôm trước là đúng: các màn cửa, nệm giường, chăn, gối, thảm đều đẹp lộng lẫy. Chẳng phải người sành, cũng thấy mỗi thứ đều tuyệt hảo.
Được Japp và đồng đội giúp sức, chúng tôi lục soát rất kỹ, hy vọng tìm ra những tài liệu quan trọng ví dụ như danh sách những tay chân chính của Bộ Tứ vĩ đại hoặc một vài kế hoạch hành động nhưng không thu được gì. Giấy tờ duy nhất tìm thấy là những ghi chép mà tên người Tàu lấy làm cơ sở để đọc lá thư gửi Poirot, đó là một bản báo cáo rất đầy đủ về công việc, tính cách cũng như những điểm yếu của chúng tôi.
Khi nắm tài liệu này, Poirot thích chí như một đứa trẻ. Riêng tôi, tôi chẳng coi trọng nó chút nào, trong đó còn có những nhận xét lố bịch là đàng khác.
Trở về nhà, tôi bảo Poirot:
- Thế là anh đã rõ kẻ thù nghĩ gì về anh. Chúng còn thổi phồng khả năng trí tuệ của anh nữa đấy, ngược lại, đánh giá thấp khả năng của tôi. Nhưng những cái đó chả giúp ta tiến thêm bước nào.
Poirot ghìm một tiếng cười nhỏ:
- Anh không thấy rằng chúng ta dễ dự đoán hơn các phương pháp tấn công của chúng? Ví dụ, giờ đây chúng ta biết phải suy nghĩ trước khi hành động, Chúng ta biết là không nên mủi lòng trước một phụ nữ xinh đẹp tóc hung đang gặp khó khăn trong cuộc sống.
Chả là chúng ghi chép rằng tôi dễ cảm trước những cô gái đẹp tóc vàng, càng vàng càng tốt. Lời ám chỉ của Poirot, tôi cho là không đúng chỗ, nên liền trả đũa bẵng cách gậy ông đập lưng ông:
- Còn anh, bao giờ thì anh hết bệnh "tự phụ quá đáng”?
Lời đáp ấy buộc bạn tôi phải thay đổi ít nhiều ý kiến về giá trị của những nhận xét về tính cách chúng tôi.
- Tất nhiên, chúng nghĩ sai về một số điểm, như vậy càng tốt! Đến lúc nào đó, chúng sẽ biết sự thật. Điều cốt yếu là phải học hỏi. Chớ quên rằng hiểu biết, tức là "sẵn sàng".
Phương châm ấy, Poirot nói luôn mồm, khiến tôi phát chán.
- Dù sao, Hastings ạ, chúng ta đã biết thêm cái gì đó, vẫn là tốt. Cần biết thêm hơn nữa.
- Nhưng biết gì? Cần phải biết gì nữa?
Poirot ngồi chĩnh chện vào ghế, đặt lại vào chỗ cái hộp diêm tôi vô ý để vương trên bàn, rồi lấy dáng điệu chứng tỏ anh sắp định nói dài về vấn đề này:
- Này nhé, ta phải chống lại với bốn kẻ thù rất khác nhau. Đầu tiên là "Số Một”. Ta chưa từng tiếp cận hắn, chỉ biết hắn qua hành động: tất cả những kế hoạch, mưu mô đã xảy ra là xuất phát từ hắn, tên Li Chang-yen, bộ óc tinh vi, nham hiểm. "Số Hai" và "Số Ba" có quyền lực và địa vị quá cao, nên tạm thời ta chưa thể tấn công. Nhưng chính bởi hai tên này luôn phơi mặt trước công chúng nên mỗi hành động, cử chỉ đều phải giữ vẻ bề ngoài nghiêm chỉnh. Cuối cùng, đến tên cuối cùng: "Số Bốn".
Poirot hạ thấp giọng như mỗi khi anh nói tới nhân vật này.
- "Số Hai" và "Số Ba" có thể thành công và tiếp tục hành động nhờ danh tiếng và địa vị vững chắc của chúng. "Số Bốn" thì ngược lại: thành công của hắn là nhờ đứng trong bóng tối. Hắn là ai? Không ai biết. Hắn thế nào? Cũng không biết gì hơn. Tôi và anh đã nhìn thấy hắn mấy lần? Năm lần thì phải. Nhưng có lần nào ta nhận ra hắn không?
Tội buộc phải lắc đầu, trong khi trong đầu óc lướt qua hình ảnh của năm con người mà chỉ là một người: Tên giám thị nhà thương điên vạm vỡ, người khách lạ Paris cổ áo dựng cao, James tên bồi, tên bác sĩ trẻ trong vụ "Hoa nhài vàng" và cuối cùng: tên giáo sư người Nga. Không tên nào giống tên nào.
- Không! - Tôi nói giọng chán nản - Chẳng có gì làm ta nhận ra hắn.
Poirot mỉm cười :
- Chớ vội nản lòng. Có một hoặc hai điều mà ta biết.
- Ví dụ? - Tôi hỏi, bán tín bán nghi.
- Chúng ta biết "Số Bốn" người tạng trung bình, tóc màu hạt dẻ hoặc vàng; thật vậy, nếu hắn cao lớn, tóc nâu và lại có da ngăm đen, thì hắn không thể đóng vai bác sĩ Quentin người tầm thước và nước da sáng. Cũng có thể cho rằng James hoặc giáo sư Savaronoff làm cho mình cao thêm hai, ba phân một cách dễ dàng. Mặt khác, mũi hắn phải ngắn và thẳng: khéo cải trang thì có thể làm mũi to hơn, chứ làm ngắn thì rất khó! Cuối cùng hắn không thể quá băm nhăm tuổi. Tóm tắt lại, nhận dạng như sau: tuổi từ ba mươi đến băm lăm, tầm cao trung bình, da sáng. Đặc điểm: mang một số răng giả. Nhận xét: cải trang rất cừ.
- Sao anh biết hắn mang răng giả?
- Nhớ không: tên giám thị nhà thương điên răng sứt và vàng; tên người Paris răng đều và trắng; bác sĩ Quentin răng hơi nhô, còn răng Savaronoff đặc biệt dài. Không gì làm bộ mặt thay đổi bằng một hàm răng thay đổi. Điều đó dẫn ta đến đâu?
- Không rõ ràng lắm.
- Người ta nói bộ mặt con người ta phản ánh nghề nghiệp của người ấy.
- Trường hợp này, nghề nghiệp nó là tội phạm.
- Đúng và là một chuyên gia cải trang.
- Thì cũng vậy.
- Xin lỗi! Có những chuyên gia hoá trang mà không phải là tội phạm! Anh vào hậu trường các nhà hát sẽ thấy... Có thể tin rằng thằng cha ấy đã từng là, hoặc đang là diễn viên!
- Diễn viên?
- Chứ sao, hắn biết đóng kịch vào bậc thầy. Xin nhớ có hai loại diễn viên: những kẻ nhập vào vai nhân vật như người ta nói, và những người áp đặt tính cách của chính mình vào vai họ đóng. Nói chung, loại sau mới sản sinh những diễn viên lớn, còn loại trước chỉ là kẻ bắt chước. Hãy tìm "Số Bốn? trong những kẻ loại này. Hắn đã tạo ra những kiệt tác bắt chước.
- Nếu tôi hiểu đúng, anh định truy tìm dấu tích của tên cướp thứ tư trong giới nghệ sĩ sân khấu?
- Đúng vậy, Hastings. Anh có đầu óc suy diễn tuyệt vời.
- Thật đáng tiếc là ý tưởng này không đến với anh sớm hơn, đỡ mất bao thì giờ - tôi lạnh lùng đáp.
- Anh nhầm rồi, từ nhiều tháng nay các cộng sự của tôi đã ra công tìm kiếm; một trong những cộng sự đó là Joseph Aaronsm, chắc anh còn nhớ. Họ đã thu thập cả một danh sách những người có đặc điểm ít nhiều như tôi vừa nói, nhất là có năng khiếu bắt chước nhân vật; phần lớn là những diễn viên đã rời bỏ sàn diễn trong vòng ba năm trở lại.
- Vậy thì sao? - Tôi bỗng chú ý.
- Danh sách khá dài. Trước mắt, chúng tôi lưu ý bốn người như sau.
Poirot quẳng cho tôi một tờ giấy, và tôi đọc to:
Ernest Luuttrell. Con trai một mục sư tỉnh nhỏ phía Bắc. Tình hình hư hỏng, làm khổ cha mẹ. Bị đuổi khỏi trường trung học. Năm hăm ba tuổi, bắt đầu diễn kịch (tiếp theo là kể các vai diễn hắn đã sắm, có cả ngày giờ). Nghiện ngập ma tuý. Cách đây bốn năm, không thấy còn ở nước Anh, và cho là đã sang Úc. Tuổi: ba mươi hai, cao: 1.78m, mặt nhẵn nhụi, tóc nâu, mũi thẳng, da sáng, mắt màu ghi.
John St. Maeer, tên hiệu. Không rõ tên thật. Nguồn gốc gia đình khiêm tốn. Đã lên sân khấu từ lúc còn trẻ, thành công trong những tiết mục bắt chước ở phần tạp kỹ. Từ ba năm nay không rõ tin tức. Tuổi: khoảng ba mươi lăm. Cao: 1.76m, mắt xanh, da sáng.
Austen Lee, tên hiệu. Tên thật là Austen Foly. Gia đình dòng dõi. Luôn có năng khiếu sân khấu. Bỏ học Oxford đi theo nghề kịch (Tiếp theo là danh sách các vở đã tham gia). Ham mê môn tội phạm học. Cách đây ba năm rưỡi, bị sốc thần kinh do tai nạn xe hơi, không xuất hiện nữa trên sân khấu. Không biết hiện đang ở đâu. Tuổi, ba mươi nhăm; cao: 1.74m, da sáng, mắt xanh, tóc nâu.
Claud Darrell. Có thể là tên thật. Nguồn gốc bí ẩn. Đã diễn tạp kỹ và kịch. Có vẻ cô độc, không bạn bè. Đã đi Trung Quốc cách đây sáu năm, từ đó sang Mỹ và đóng vài vở ở New York. Một tối, không thấy có mặt trên sân khấu và biến mất từ đó. Cảnh sát cho vụ mất tích này là "rất bí ẩn”. Tuổi: chừng ba mươi ba, tóc màu hạt dẻ nhạt, da sáng, mắt màu ghi, cao: l.79m.
Tôi đặt tờ giấy xuống, nói:
- Hay lắm. Vậy đây là kết quả tìm kiếm hàng tháng trời! Trong bốn tên này, anh chú ý ai nhất?
- Lúc này, câu hỏi vẫn còn để ngỏ. Chỉ tạm nhấn mạnh là Claud Darrell đã đi Trung Quốc và Mỹ, điều đó hẳn không phải không ý nghĩa. Tuy nhiên cũng không nên bị ảnh hưởng bởi định kiến. Có thể chỉ là sự trùng hợp.
- Chúng ta sẽ làm gì? - Tôi háo hức hỏi.
- Chúng ta đang làm rồi đó. Hằng ngày trên các tờ báo lớn đều đăng lời nhắn tin viết rất rõ ràng. Thân nhân và bạn bè những ngươi nói trên xin hãy liên hệ với thư ký của tôi, ở văn phòng, tất nhiên. Rất có thể ngay ngay hôm nay... A! A! Có điện thoại...
Tôi nhấc máy:
- Phải, nhà ông Poirot đây; tôi là đại uý Hastings. Ồ! Ông McNeil đấy ư (McNeil và Hodgson là những thư ký của Poirot). Tôi báo ông ấy. Chúng tôi đến ngay.
Tôi đặt máy, quay về phía Poirot, hết sức xao xuyến:
- Anh Poirot! Có một người đàn bà, tự nhận là bạn gái của Claud Darrell, một cô tên là Flossie Monro, đang đợi ở chỗ McNeil.
- Ta đến ngay - nói rồi, Poirot vớ lấy mũ.
Taxi nhanh chóng đưa chúng tôi đến văn phòng của McNeil. Đang ngồi ở ghế trước mặt ông này là một bà từ lâu đã quá tuổi thanh xuân. Bộ mặt phấn son loè loẹt được viền bằng một bộ tóc vàng kỳ lạ. Cãi miệng đỏ chót tô son rất đậm nhoẻn cười với chúng tôi. McNeil nói:
- Xin giới thiệu ông Poirot. Thưa ông Poirot, đây là cô… hờ... Monro, đọc lời nhắn tin, đã vui lòng đến gặp.
- Cô thật tử tế, thưa cô - Poirot nói.
Và anh tiến gần, bắt tay cô một cách thân mật.
- Cái văn phòng cổ lỗ, bụi bặm này càng làm tôn vẻ tươi đẹp của cô bội phần! - Anh nói tiếp, không cần để ý đến những gì McNeil và Hodgson có thể nghĩ.
Lời tán dương ấy không khỏi không có tác động: cô Monro ửng hồng đôi má và nũng nịu:
- Ồ! Ông Poirot, ông cứ đùa! Tôi biết tính người Pháp các ông rồi.
- Khác với các bạn người Anh, chúng tôi không thể im lặng khi đứng trước sắc đẹp, thưa cô. Và cho phép đính chính: tôi không phải người Pháp, mà là người Bỉ.
- Tôi có biết Ostende - cô Monro vội nói. Lỡi lẽ phong nhã của Poirot hẳn đã làm cô siêu lòng.
- Cô bảo cô có thể cho biết vài tin tức về ông Claud Darrell?
- Tôi rất gần gụi với ông Darrell. Khi thấy nhắn tin trên báo, tôi tự nhủ: Các ông này muốn biết tin tức về Claudy tội nghiệp... và họ là các nhà chức trách, nên có thể là liên quan đến của thừa kế. Lúc nãy đang rảnh, nên tôi đến ngay.
Ông McNeil đứng lên:
- Tôi có phải để ông nói chuyện riêng với cô Monro không, thưa ông Poirot?
- Ồ không, ông McNeil. Xin ông cứ ở lại. Tôi nẩy ra một ý: giờ ăn sắp tới, và tôi hy vọng sẽ có vinh dự được mời cô dùng bữa.
Mắt cô Monro sáng lên vì mãn nguyện! Hẳn cô đang không dư dật, một bữa ăn đàng hoàng đến thật đúng lúc.
Lát sau, ba chúng tôi lên xe taxi tới một hiệu ăn sang trọng của London. Poirot đặt một bữa ăn thịnh soạn.
- Cô dùng rượu gì, thưa cô? Sâm banh nhé?
Quả là, không có ai yêu mến Poirot hơn cô Monro lúc này!
Nhà thám tử đại tài liên tục rót đầy ly cho cô gái, khiến tôi hiểu ngay ý đồ. Dần dà, anh dẫn dắt cô vào câu chuyện cần thiết.
- Thật đáng tiếc là ông Darrell không có mặt với ta hôm nay!
- Vâng, thật vậy - cô Monro thở dài. Tội nghiệp cậu chàng. Không hiểu xảy ra chuyện gì?
- Cô không gặp ông ấy lâu chưa?
- Đã lâu lắm… Anh ta rất kín đáo, ít khi nói chuyện mình. Có việc gì vậy?
- Một chút của thừa kế - Poirot nói dối không đỏ mặt. Vấn đề bây giờ là phải xác minh lý lịch. Chúng tôi cần nói chuyện với người nào biết rõ ông ấy. Cô biết rõ ông ấy phải không?
- Quá rõ ấy chứ, thưa ông Poirot! Tôi nói thật, vì ông là người hào hoa quân tử, cứ xem cái cách ông gọi món ăn thì biết, bây giờ ít người sành như thế? Tôi nói vậy chắc không phật ý những người Pháp các ông. Ai Người Pháp là ranh mãnh lắm!
Cô ta tinh nghịch giơ ngón tay đe doạ.
- Vâng chuyện là thế này! Hồi trước, Claudy và tôi, hai người đều trẻ... còn có gì tự nhiên hơn? Thú thật là tôi cũng có phần siêu lòng vì anh ấy. Tuy nhiên, không phải bao giờ anh ta cũng chơi đẹp với tôi!... Anh ta không có thái độ đúng mức của người lịch thiệp đối với phụ nữ. Luôn luôn như thế mỗi khi dính dáng chuyện tiền nong.
- Cô đừng nói thế - Poirot lại rót đầy ly của cô - Chắc chắn Claudy yêu cô. Sao không yêu cô được? Còn cô, cô có yêu anh ta thật tình không? Về hình thức, anh ta thế nào?
- Anh ấy không có gì đặc biệt - Flossie Monro như nói với chính mình - Không cao không thấp, nhưng cân đối, mắt xanh xám, tóc vàng. Nhưng là diễn viên giỏi, tôi chưa từng thấy! Lẽ ra anh phải nổi danh từ lâu, nếu không bị người khác dèm pha, đấu đá. Ôi, ông Poirot, thói ghen tị mà!... Ông không thể hình dung chúng tôi khổ sở thế nào. Tôi nhớ một lần, ở Manchester...
Phải hết sức kiên nhẫn chúng tôi mới ngồi nghe hết một câu chuyện dài và phức tạp về những mưu mô tồi tệ của ngôi sao chính một nhà hát lớn ở Manchester.
Poirot tế nhị kéo cô gái lắm lời trở về Claud Darrell.
- Những điều cô nói về ông Darrell là rất có ích, thưa cô; phụ nữ văn quan sát rất giỏi, trông thấy và đôi khi ghi nhận những tiểu tiết mà chúng tôi không thấy. Tôi đã chứng kiến một bà ra nhận dạng một người trong số mười hai người. Bà ấy làm thế nào?... Đơn giản là bà đã chú ý rằng anh ta có tật sờ tay lên mũi mỗi khi lo lắng điều gi. Một người đàn ông không bao giờ để ý đến chuyện vặt như vậy.
- Tôi không lạ - Cô Monro nói - Quả thật phụ nữ chúng tôi có khiếu quan sát. Nghe ông nói tôi lại nhớ Claudy lại có tật mân mê bánh mì trong khi ăn! Anh ta bẻ vụn bánh mì, hoặc vê tròn những mẩu ruột bánh. Tôi đã thấy anh ta làm thế đến trăm lần! Với cử chỉ ấy, tôi sẽ nhận ra anh ta bất cứ ở đâu!
- Phụ nữ thật tuyệt vời! Cô đã làm vinh dự cho phái đẹp! - Poirot xun xoe - Cô có nói với anh ta về tật ấy không?
- Không bao giờ, ông lạ gì đàn ông. Họ không thích ai nhận xét. Tôi không đả động bao giờ, chỉ cười thầm trong bụng, vả lại anh ta làm thế một cách vô thức.
Poirot gật gù tán thưởng. Tôi nhận thấy tay anh hơi run khi đưa cốc lên miệng. Anh nói:
- Còn một cách nữa để nhận dạng, đó là chữ viết. Cô có giữ lá thư nào của Darrell?
Flossie nhăn mặt.
- Anh ta không hay viết. Không viết cho tôi một chữ nào.
- Thật đáng tiếc - Poirot nói.
- Tuy nhiên, xin nói ông điều này: tôi có một tấm ảnh, ông thấy có cần không...
- Cô có ảnh? - Poirot gần như chờm lên vì mừng.
- Vâng, nhưng cũ rồi... cách đây ít nhất tám năm.
- Không sao! May quá! Hy vọng cô cho phép tôi xem?
- Nhất định rồi, ông Poirot!
- Cô cho phép tôi sao lại nhé? Mất một chút thì giờ.
- Rất vui lòng!
Cô Monro đứng dậy:
- Tôi phải đi đây. Rất vui đã gặp ông, ông Poirot!
- Bao giờ cô cho xin ảnh?
- Tôi về tìm đã. Tôi nhớ đã để nó ở đâu, sẽ xin gửi tới ông ngay.
- Muôn vàn cảm ơn. Cô thật tử tế! Hy vọng chúng ta có dịp cùng dũng bữa.
- Tôi sẽ rất vui lòng - cô gái tóc vàng nhún nhẩy đáp.
- Cho phép tôi xin địa chỉ của cô?
Vui vẻ đàng hoàng, cô Monro rút trong ví một tấm thiếp hơi nhầu, đưa cho bạn tôi: địa chỉ cũ đã bị xoá, thay bằng địa chỉ mới viết bằng bút chì.
Sau nhiều lần chào và đáp lễ, chúng tôi mới từ biệt được với người đẹp. Tôi hỏi:
- Anh có nghĩ bức ảnh ấy sẽ giúp ta được việc?
- Nhất định rồi, ảnh chụp không đánh lừa ta được. Chúng ta sẽ cho phóng to, và sẽ xem xét một số chi tiết còn chưa rõ; hình thù đôi tai thế nào, chẳng hạn… Và nếu Claud Darrell đúng là "Số Bốn”, chúng ta có một quân bài ăn chắc trong tay! Vì vậy ta phải có biện pháp đề phòng.
Poirot gọi điện hỏi một hãng thám tử tư mà đôi khi anh vẫn yêu cầu sự giúp sức. Anh dặn dò cụ thể: cử hai người đến địa chỉ đã định, canh chừng cho sự an toàn của cô Monro.
- Cần thiết phải làm như thế sao?
- Phòng trước là hơn! Dù thế nào - anh và tôi vẫn bị chúng theo sát, và chúng sẽ biết hôm nay chúng ta vừa ăn với ai. Tên "Số Bốn" có thể đã đánh hơi thấy nguy hiểm.
Hai mươi phút sau, chuông điện thoại reo; tiếng người báo:
- Ông Poirot phải không? Đây là bệnh viện Saint - James. Cách đây mười phút, vừa chở tới một phụ nữ. Tai nạn giao thông. Tên là Flossie Monro, bà ta yêu cầu gặp ông. Đến ngay, kẻo bà không còn sống bao lâu.
Tôi chuyển lời nhắn cho Poirot. Mặt anh tái nhợt vì xúc động
- Mau, Hastings, ta đi ngay.
Mười phút sau, tắc xi đưa chúng tôi tới bệnh viện. Một nữ tu trùm mũ trắng gặp chúng tôi ngoài hành lang.
Poirot hiểu ngay:
- Chậm rồi.
- Bà ấy chết cách đây năm phút.
Poirot thực sự bị choáng. Bà nữ tu thấy vậy, nhẹ nhàng:
- Bà ấy không đau đớn, vì đã bất tỉnh. Bị xe hơi đụng, tên lái bỏ trốn, thật là khủng khiếp. Hy vọng có người ghi được số xe.
- Chúng ta không gặp may - Poirot khẽ nói.
- Các ông có muốn vào thăm?
Cô y tá dẫn chúng tôi tới nàng Flossie Monro tội nghiệp. Trông như cô đang ngủ, nụ cười vẫn nở trên môi đậm son. Poirot lại lẩm bẩm:
- Đúng, trời đất không ủng hộ ta.
Rồi ngẩng đầu, anh hỏi:
- Có thật tai nạn không? Ôi anh Hastings, nếu không phải, tôi thề trên thi thể người đàn bà này là tôi sẽ trả thù không thương tiếc!
- Anh nói gì cơ?
Poirot quay về bà nữ tu, hỏi thêm chi tiết. Và anh có danh sách những đồ vật tìm thấy trong ví nạn nhân.
- Anh thấy chưa, Hastings?
- Tôi chưa thấy gì.
- Trong số đồ vật, không thấy có chìa khoá, mà nhất định cô ta phải mang theo chìa khoá. Rõ ràng là cô ta bị cố tình chẹt, rồi bị lấy chiếc chìa khóa trong ví. Chúng ta đến mau, may ra còn kịp trước khi chúng tìm thấy thứ chúng cần!
Tắc xi lại đưa chúng tôi đến địa chỉ mà Flossie Monro đưa ra. Đó là một ngôi nhà bẩn thỉu trong một khu phố tồi tàn. Khó khăn chúng tôi mới vào được căn hộ, ít nhất cũng tự an ủi là ai từ đây đi ra đều bị chung quanh nhìn thấy. Than ôi! Bọn chúng đã tới trước. Bàn ghế bị đập, quần áo bị rạch, vật dụng khác vương vãi trên sàn. Một chiếc ghế, một cái kỷ đổ kềnh chứng tỏ những kẻ đột nhập rất vội.
Poirot bắt đầu tìm kiếm trong động lộn xộn. Bỗng anh đứng dậy, kêu một tiếng, tay giơ một vật. Một khung ảnh cũ... không còn ảnh!
Poirot lật phía sau. Sau lưng dán một nhãn tròn ghi giá tiền.
- Bốn silinh - tôi đọc.
- Anh Hastings, hãy mở to mắt. Cãi nhãn này còn mới! Chúng dán vào để thách thức. Tên đến trước để lấy ảnh biết là chúng ta sẽ tới. Nó là Claud Darrell, tức "Số Bốn"!
Agatha Christie
Bộ Tứ
Người dịch: DƯƠNG LINH
Chưong XV
TAI HỌA KINH HOÀNG
Sau cái chết của Flossie Monro, tôi nhận thấy ở Poirot có sự thay đổi... Trước khi xảy ra chuyện này, lòng tự tin vô hạn vào chính mình là không gì lay chuyển, nhưng giờ đây cả một quá trình nỗ lực đã khiến anh mệt mỏi. Anh tỏ ra nóng nẩy, và tâm trạng bồn chồn thể hiện thành những phản xạ khó đoán.
Anh hết sức tránh những lời nói liên quan đến Bộ Tứ và có vẻ chỉ lo những công việc thường lệ, trong khi thực ra anh vẫn bí mật xúc tiến điều tra cái vụ việc mù mờ này.
Tôi nhận thấy anh thường luôn tiếp khách là người Xlavơ va dù anh không giải thích gì với tôi, tôi hiểu là anh đang xây dựng một chiến lược mới. Những người khách lạ nọ được anh sử dụng làm công cụ.
Một hôm, nhân được nhờ xem lại sổ sách để kiểm tra tiền chi tiêu, tôi thấy anh đã chi một số tiền lớn (lớn cả với anh là người có thu nhập đáng kể) cho một người Nga nào đó, mà cái tên dài lủng củng gồm hầu hết các mẫu tự của bảng chữ cái.
Tuy nhiên, Poirot vẫn giấu kế hoạch với tôi. Anh chỉ nói luôn mồm rằng sai lầm lớn nhất là đánh giá sai kẻ thù, và tôi kết luận là anh quyết cố để khỏi mắc sai lầm đó.
Mọi việc cứ thế diễn tiến cho đến cuối tháng Ba. Một buổi sớm, Poirot tuyên bố:
- Sáng nay, ta cần ăn mặc thật chỉnh tề, đến chỗ ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
- Thật ư? Hay đấy, ông ấy giao anh việc này à?
- Không hẳn. Chính tôi đã yêu cầu cuộc gặp này. Anh còn nhớ tôi đã kể, có lần tôi đã giúp ông ta một việc nhỏ? Từ đó ông rất tin phục tôi, và tôi muốn tận dụng thiện chí ấy. Và như anh biết, ông Desjardeaux, Thủ tướng nước Pháp, hiện đang ở thăm London; nên theo đề nghị của tôi, ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ mời luôn ông cùng dự.
Sydney Crowther, Bộ trưởng Nội vụ nước Anh là một nhân vật danh tiếng. Người đã cao tuổi, có dáng bộ dễ mến, đôi mắt màu ghi tinh nhanh, tiếp chúng tôi với vẻ xuề xoà thường thấy ở ông.
Thủ tướng nước Pháp, người mảnh, có bộ mặt diễn cảm điểm bộ râu nhọn, đang đứng dựa lò sưởi. Ông Crowther nói:
- Ông Poirot, chúng tôi nghe ông nói. Tôi hiểu là ông muốn thông báo một tin tức quan trọng vào bậc nhất.
- Đúng vậy, thưa ngài Bộ trưởng. Trên thế giới đang có một tổ chức tội phạm do bốn người chỉ huy. Bọn này được mệnh danh là "Bộ Tứ Vĩ đại", hoặc nôm na là bọn "Bốn Người". Số Một” là người Tàu, tên Li Chang-yen. "Số Hai" là nhà tỉ tỉ phú Mỹ Abe Ryland; "Số Ba" là một phụ nữ Pháp; còn "Số Bốn” có nhiều căn cứ để tôi cho là một diễn viên người Anh ít tên tuổi, Claud Darrell. Bốn tên đó liên kết với nhau để thiết lập một nền độc tài bộ tứ trên toàn thế giới. Và chúng có khả năng đạt điều đó.
- Thật khó tin - Thủ tướng Pháp lẩm bẩm - Sao Ryland có thể dính đến một chuyện như vậy? Vô lý!
- Xin phép cho tôi kể một vài chiến tích của Bộ Tứ vĩ đại!
Poirot đứng lên, bắt đầu nói. Anh nói ngắn, nhưng thống thiết. Đã biết rõ mọi chi tiết, song tôi vẫn xúc động khi nghe anh trình bày bao chuyện xảy ra và kịch tính của cuộc chiến đấu chống bọn Bốn Người.
Poirot nói xong, ông Desjardeaux im lặng nhìn Crowther. Ông này hiểu câu hỏi bao hàm trong cái nhìn đó.
- Vâng, tôi cho là phải công nhận Bộ Tứ vĩ đại là có thật! Lúc đầu, Scotland Yard cũng muốn coi thường song chẳng bao lâu phải công nhận ông Poirot nói đúng ở hơn một điểm: vấn đề là xem các giả thuyết của ông ấy có cơ sở đến đâu. Tôi không tin là ông Poirot... khuếch đại quá đáng.
Để giải đáp, Poirot kể ra mười sự việc chính. Tôi đã được yêu cầu không để lộ ra công khai, kể cả vào giờ phút này. Tuy nhiên tôi được phép nói đó là những tai hoạ dưới đáy biển châu Mỹ, những tai nạn máy bay kỳ lạ những sự chuẩn bị chiến tranh, tuyên truyền bạo lực do một số đảng cực đoan tiến hành. Theo Poirot, đó đều là tác phẩm của Bốn Người. Chúng nắm giữ những phương tiện khoa học loài người chưa từng biết.
Cuối cùng, Thủ tướng Pháp nêu câu hỏi mà chúng tôi chờ đợi:
- Ông nói người thứ ba của tổ chức này là một phụ nữ Pháp: tên bà ta là gì?
- Một cái tên nổi tiếng, thưa ngài Thủ tướng. "Số Ba" không ai khác là bà Olivier.
Ông Desjardeaux chồm lên:
- Bà Olivier? Không thể được! Vô lý! Không có lẽ! Lời ông nói là một sự xúc phạm!
Poirot bình tĩnh lắc đầu, không nói gì.
Ông Desjardeau kinh ngạc nhìn Poirot một lúc, rồi quay sang Bộ trưởng Bộ Nội vụ:
- Ông Poirot là người có tiếng, điều ấy đã rõ, nhưng những con người lớn đôi khi có tật nhỏ. Tật của ông phải chăng là tưởng tượng ra những âm mưu, rồi gán nó cho những người quen biết? Ông nghĩ sao, ông Crowther?
Crowther suy nghĩ một lát, rồi thong thả cân nhắc từng chữ, đáp:
- Thực ra, tôi không biết. Tôi đã và vẫn tin tưởng ông Poirot, nhưng phải công nhận trường hợp này là khó tin.
- Đã có ai nghe nói đến cái tên Li Chang-yen? - Desjardeaux hỏi.
- Tôi - Ingles, từ nãy không nói gì, đáp.
Vị thủ tướng Pháp quay nhìn Ingles. Vị bộ trưởng Anh nói:
- Ông Ingles đây là người am hiểu nhất về Trung Quốc.
- Và ông đã nghe nói đến Li Chang-yen?
- Trước hôm ông Poirot đây đến nói với tôi, tôi cứ tưởng ở nước Anh chỉ có mình tôi biết. Xin ông tin rằng, người duy nhất đáng kể hiện nay ở Trung Quốc, là Li Chang-yen. Có lẽ hắn là người thông minh nhất thế giới!
Desjardeaux choáng người, suy nghĩ, rồi nói tiếp, giọng bình tĩnh hơn:
- Rất có thể những khẳng định của ông Poirot nói chung là có cơ sở, nhưng về bà Olivier, chắc chắn ông đã lầm: đó là một bác học lớn cả đời chỉ có nghiên cứu!
Poirot khẽ nhún vai như chán nản, lặng im. Sau một, hai phút, anh đứng lên, lấy bộ nghiêm trang đến mức ngộ nhĩnh.
- Đó là tất cả những gì tôi muốn thông báo tới các ngài. Tôi biết trước là các ngài sẽ không tin, do đó tôi không lấy làm lạ, nhưng dù sao tôi cũng yêu cầu các ngài cảnh giác. Những điêu tôi nói, ắt sẽ đọng lại một cái gì, và nếu xảy ra sự cố gì mới, các ngài hãy nhớ lại. Tôi cần phải trình bày hôm nay, sợ rằng sau này sẽ không còn nói được nữa.
- Ông muốn nói gì? - Bị ấn tượng bởi sự nghiêm trọng của Poirot, Crowther hỏi.
- Tôi muốn nói từ khi tôi xác định được lý lịch của "Số Bốn", cuộc sống của tôi không đáng giá bao nhiêu nữa. Hắn sẽ tìm cách thủ tiêu tôi bằng mọi giá; hắn rất xứng với danh hiệu "Kẻ tiêu diệt ! Thưa ngài Crowther, cho phép tôi chuyển cho ngài chiếc chìa khóa và phong bì này. Tôi đã tập hợp mọi ghi chép về vụ này, chỉ ra những cách mà tôi cho là cần thiết để đấu tranh chống tai hoạ. Trường hợp tôi chết, tôi đồng ý để ngài sử dụng những tài liệu này. Và bây giờ, xin các ngài cho phép tôi cáo lui.
Desjardeaux chào đáp lễ. Crowther đứng lên, bắt tay ông bạn cố tri.
- Ông đã thuyết phục tôi. Dù vô lý đến thế nào, tôi vẫn tin ở ông.
Ingles cùng chúng tôi ra về. Poirot nói:
- Tôi không thất vọng. Desjardeaux thì tôi nghĩ khó thuyết phục. Cuộc gặp này ít nhất cũng làm tôi yên tâm rằng mọi việc tôi làm là không vô ích, nếu một mai tôi bị thủ tiêu. Không thuyết phục được hai thì được một, cũng là kết quả.
- Tôi hoàn toàn đồng ý với ông - Ingles nói - Ông Poirot, tôi sắp trở lại Trung Quốc.
- Như thế có khôn ngoan không?
- Không - Ingles nói ngay - Nhưng cần trở lại. Mỗi người làm được gì thì phải cố làm.
- A, ông thật dũng cảm. Nếu không đang ở ngoài đường, tôi xin ôm hôn ông - Poirot xúc động.
Ingles tỏ vẻ phấn chấn... vì đang ở ngoài đường.
- Tôi nghĩ ông ở London còn nguy hiểm hơn tôi ở Trung Quốc.
- Có thể - Poirot nói. Mong muốn duy nhất của tôi là chúng không giết cả Hastings.
Sau khi chia tay ông Ingles, chúng tôi yên lặng đi một quãng. Bỗng nhiên, Poirot tung ra một lời bất ngờ:
- Tôi nghĩ phải lôi thằng em tôi vào cuộc.
- Sao, em anh? - tôi sửng sốt - Tôi không biết là anh có em trai!
- Anh này lạ thật. Anh không biết rằng tất cả các thám tử nổi tiếng đều có những người anh em có thể còn nổi tiếng hơn, ít nhất là vì sự lười biếng bẩm sinh?
Có những lúc, không thể biết Poirot đùa giỡn hay nghiêm chỉnh.
- Tên cậu em là gì? - Tôi hỏi, đành coi đó như chuyệt thật.
- Achille. Achille Poirot; hắn ở gần Spa, bên Bỉ.
- Cậu ta làm gì? - Tôi hỏi tiếp vì tò mò, không đả động đến xu hướng thủ cựu đã khiến cụ bà Poirot xưa đặt cho các con những cái tên lấy từ huyền thoại!
- Như tôi đã nói, hắn ngồi không. Thế mới chết. Lười chảy thây. Nhưng thực ra, nó có khả năng chẳng kém tôi, nói thế là đủ!
- Hình thức giống anh không?
- Giống, nhưng không điển trai bằng! Nó không để ria. Chúng tôi cũng sinh ra đời một lúc.
- Thế là anh em sinh đôi? - Tôi kêu.
- Đúng vậy. Bao giờ anh cũng có kết luận đúng đắn. Nào! Về đến nơi rồi, lại phải lo giải quyết vụ chuỗi vòng của nữ công tước.
Song chuỗi vòng của nữ công tước lại phải đợi đấy vì một vụ khác hẳn lại nhờ cậy đến chúng tôi.
Thật vậy vừa về đến nhà, bà Pearson đã báo là có một nữ y tá đang chờ Poirot.
Một thiếu phụ xinh đẹp mặc đồng phục xanh sẫm ngồi trên chiếc ghế bành lớn trông ra cửa sổ; cô ta có vẻ rụt rè, song Poirot với lời lẽ khéo léo đã làm cô ta lấy lại tự nhiên.
- Tôi đến để xin một lời khuyên, thưa ông Poirot. Đã xẩy ra một chuyện kỳ lạ. Tôi được giáo đoàn các Nữ tu ở Lark cử đến chăm sóc một bệnh nhân ở Hertfordshire. Đó là ông Templeton, đã cao tuổi. Ngôi nhà và những người trong nhà rất dễ thương. Bà Templeton trẻ hơn chồng rất nhiều, ông này có từ đời vợ trước một anh con trai hiện đang cùng sống. Tôi không dám chắc là chàng trai này và bà mẹ kế có hoà hợp nhau không. Cậu con này cũng lung tung lắm. Ngay từ đầu, tôi thấy bệnh tình ông Templeton khả bí ẩn; có lúc ông ấy có vẻ khoẻ mạnh, rồi đột nhiên lại đau bụng, nôn oẹ, đau đớn dữ dội. Tuy nhiên, bác sĩ dường như coi là việc bình thường, tôi không dám có ý kiến gì. Cho đến một hôm...
Cô đỏ mặt và ngừng nói.
- … đã xảy ra một điều nào đó khiến cô nảy sinh nghi ngờ - Poirot nói hộ câu dang dở.
- Vâng. Đúng như vậy.
Rồi lại yên lặng, ngập ngừng. Cuối cùng:
- Tôi nhận thấy là cả các gia nhân cũng có lời tiếng đàm tiếu.
- Về bệnh tình ông Templeton?
- Ồ không! … Về ... về chuyện khác...
- Bà Templeton?
- Vâng.
- Bà Templeton và ông bác sĩ chăng?
Poirot đánh hơi rất nhạy về loại chuyện này. Cô y tá nhìn anh biết ơn và kể tiếp:
- Vâng, gia nhân có nhận xét, và một hôm chính tôi trông thấy bà Templeton và ông bác sĩ... cùng nhau... trong vườn.
Cô y tá chỉ nói đến thế. Cô có vẻ bất bình cao độ, nên không tiện hỏi rõ xem cô thấy gì trong vườn. Hẳn là cô đã nhìn thấy đủ để có một thái độ. Lấy lại bình tĩnh rồi, cô thông báo tiếp:
- Các cơn bệnh ngày càng nặng lên. Bác sĩ Treves nói đó là tiến trình tự nhiên của bệnh, và ông Templeton không còn sống được bao lâu. Trong suốt cuộc đời y tá, tôi chưa từng thấy như thế bao giờ. Triệu chứng ấy có thể coi như là...
Cô lại do dự.
- Bị đầu độc bằng thạch tín? - Poirot hỏi.
Cô y tá gật đầu, nói tiếp:
- Một hôm, bệnh nhân nói một câu mà tôi không hiểu. Ông ấy nói: “Chúng sẽ bắt được ta. Bốn người, chúng sẽ bắt được".
- Sao? - Poirot hỏi.
- Ông ấy nói đúng như thế. Phải nói rằng ông rất đau đớn, có lẽ ông ấy không hiểu mình nói gì.
- Theo cô, ông ấy nói “bốn người" là ý gì?
- Nào tôi biết. Tôi cho là ông ấy nói đến vợ, con, bác sĩ, và thêm nữa là cô Clark, người thường tháp tùng bà Templeton. Có lẽ ông nghĩ rằng cả bốn đều liên kết chống lại ông.
- Đúng, đúng, có thể - Poirot ra vẻ đăm chiêu - Cô có kiểm tra được thức ăn của người bệnh?
- Tôi cũng cố, nhưng thường thì bà Templeton đòi được đích thân mang bữa ăn tối; hơn nữa, có những giờ tôi không trực.
- Tất nhiên. Cô có thể đủ chắc chắn có cơ sở để báo cảnh sát?
Nghe hai từ "cảnh sát", cô y tá lộ vẻ kinh hoàng.
- Tôi đã làm thế này. Sau khi ăn xúp, ông Templeton bỗng lên cơn nặng. Tôi đã lấy phần xúp còn lại trong bát, mang đến cho ông. Hôm nay sau khi ông Templeton ngủ, tôi được phép vắng mặt.
Cô rút trong túi ra một lọ nhỏ, đưa Poirot.
- Tốt lắm, chúng ta sẽ cho đi kiểm nghiệm ngay; nếu khoảng một giờ nữa cô quay lại, có thể biết kết quả.
Sau khi hỏi tên và một vài nét tiểu sử của cô, Poirot tiễn cô ra về, rồi cho đưa cái lọ đến phòng thí nghiệm quen.
Trong khi chờ kết quả, Poirot kiểm tra lại các chức danh của cô y tá, khiến tôi hơi ngạc nhiên.
- Điều rất tự nhiên thôi, anh bạn, tôi phải rất thận trọng. Chớ quên là bọn Bốn Người đang rình.
Một nữ y tá tên Mabel Palmer, nhân viên của Viện Lark, đúng là đã được cử chăm sóc bệnh nhân mà ta biết.
- Đến giờ, mọi việc đều tốt - Poirot nói.
- À cô ấy đã trở lại đồng thời kết quả kiểm nghiệm được đưa tới.
Cô Palmer và tôi nóng lòng chờ Poirot công bố kết quả.
- Có tìm ra dấu vết thạch tín không? - cô hỏi.
Poirot gấp tờ giấy, lắc đầu:
- Không!
Cả hai chúng tôi đều rất ngạc nhiên.
- Không có thạch tín, nhưng có antimoan. Chúng ta phải đi ngay Hertfordshire. Mong rằng đến kịp.
Kế hoạch chiến đấu được bàn soạn:
Poirot tự giới thiệu thẳng từng là thám tử, muốn hỏi bà Templeton về một người làm cũ dính vào một vụ ăn cắp nữ trang.
Chúng tôi để cô y tá về trước hai mươi phút để khỏi gây nghi ngờ, do đó bản thân đến "Elmstead" - cơ ngơi của ông Templeton - khá muộn.
Bà Templeton tiếp chúng tôi lịch sự, nhưng trong ánh mắt và cử chỉ có vẻ gì bồn chồn.
Khi Poirot tự xưng danh tính, bà hơi giật mình. Tuy nhiên bà trả lời khá tự nhiên những câu hỏi về người làm cũ. Để nghiên cứu phản ứng của đối tượng, Poirot kể một vụ đầu độc, trong đó thủ phạm là một người đàn bà. Mắt anh không rời bà Templeton, bà ta cố gắng lắm mới kìm sự xao xuyến. Giữa chừng, bà ta lí nhí mấy lời xin lỗi rồi bỏ đi. Nhưng chúng tôi không ở lâu một mình: xuất hiện một người đàn ông vạm vỡ, ria mép màu hung, đeo kính một mắt. Ông ta tự giới thiệu:
- Tôi là bác sĩ Treves. Bà Templeton yêu cầu tôi xin các ông lượng thứ. Bà không được khoẻ, từ khi chồng bà ngã bệnh, bà luôn luôn rối trí. Tôi đã cho bà uống brômuya và yêu cầu đi nằm. Bà Templeton mời các ông ăn tối tại đây, có gì ăn nấy, và giao cho tôi thay mặt chủ nhà. Ông Poirot, chúng tôi đã nghe nói nhiều về ông, và rất hân hạnh được tiếp ông. Ồ! Đây là Micky.
Một thanh niên chậm rãi đi vào. Mặt tròn, lông mày vểnh lên làm cho bộ dạng thêm ngơ ngác... Anh ta cười mà như mếu, bắt tay chúng tôi. Không thể lầm, đúng là con trai người bệnh.
Chúng tôi vào phòng ăn. Tận tình lo mọi việc để tiếp khách, bác sĩ Treves ra ngoài một lát. Đột nhiên nét mặt người con thay đổi; anh ta ngả đầu phía trước nhìn Poirot, nói thầm:
- Ông đến vì việc cha tôi phải không? Tôi biết nhiều chuyện mà mọi người không biết. Nếu cha tôi chết hẳn bà mẹ rất mừng, vì có thể kết hôn với bác sĩ Treves. Bà không phải mẹ đẻ của tôi. Tôi không ưa.
Câu chuyện có một cái gì buồn thảm. Nhưng bác sĩ Treves đã trở lại và chúng tôi buộc phải chuyển đề tài.
Đột nhiên, Poirot ngửa người ra phía sau, rên rỉ. Bộ mặt lộ vẻ đau đớn. Bác sĩ lo lắng hỏi:
- Thưa ông, ông đau ạ?
- Lại một cơn bất ngờ, thỉnh thoảng tôi thường bị. Không sao, thưa bác sĩ, tôi không cần gì, chỉ muốn nằm một lát. Ông cho phép tôi lên nghỉ ở một phòng, được không?
Ông bác sĩ tất nhiên đồng ý, và tôi đưa Poirot lên gác trên, và anh ngã vật xuống giường với tiếng rên rĩ ồn ào.
Lúc đầu, tôi cũng bị mắc lừa. Nhưng rồi tôi hiểu là Poirot đóng kịch, và anh làm thế chỉ cốt để ở ngay cạnh phòng ông Templeton.
Khi chỉ còn hai người, anh nhảy từ giường xuống.
- Hastings, mau chuồn thôi! Bên ngoài có một cây leo, ta có thể trốn mà không ai thấy.
- Trốn ư?
- Phải, phải đi ngay khỏi nhà này. Anh không thấy hắn trong bữa ăn à?
- Ai? Ông bác sĩ?
- Không, thằng con trai Templeton. Anh không thấy nó mân mê bánh mì? Có nhớ Flossie Monro nói gì trước khi chết? Claud Darrell có tật dùng ruột bánh mì để nhặt những vụn rơi vãi trên khăn bàn. Hastings, ta đang đứng trước một âm mưu rộng lớn, và thằng cha có bộ mặt thơ ngây ấy không là ai khác kẻ thù chính: "Số Bốn”. Ta đi mau.
Tôi không tranh cãi. Dù khó tin thế nào, tôi thấy tốt hơn là không nên trì hoãn. Chúng tôi bám vào cây leo tụt ra ngoài nhà và chạy một mạch ra ga, vừa kịp để nhảy lên tàu chuyến cuối cùng lúc tám giờ ba mươi tư, và khoảng mười một giờ về tới London.
- Đúng là một âm mưu - Poirot nói - chúng có bao nhiêu người tham gia chuẩn bị trò này, tôi không biết. Tất cả mọi người trong gia đình Templeton đều là tay chân bọn Bốn Người. Chúng chỉ muốn nhử ta vào bẫy, hay kế hoạch của chúng còn tinh vi hơn? Có thể chúng muốn giữ tôi ở đó đủ thời gian để chúng phạm một tội ác nào đó?
Anh mơ màng suy nghĩ một lát lâu. Rồi nói:
- Cẩn thận anh Hastings, tôi ngờ lắm. Để tôi vào trước.
Và anh thực hiện luôn. Tôi bật cười thấy anh cẩn thận dùng một chiếc guốc do gia nhân bà Pearson bỏ vương gần đấy để ấn vào nút bật đèn. Anh dò dẫm quanh phòng như con mèo lạc vào đất lạ sẵn sàng đối phó mọi tình thể... Tôi bắt đầu sốt ruột:
- Có gì lạ không?
- Không, nhưng phải đề phòng.
- Thật buồn cười! Để tôi đốt lò sưởi, rồi hút điếu thuốc. Này nhé, hôm nay đến lượt tôi phê bình anh, anh dùng diêm sau cùng và không để nó vào chỗ cũ.
Đứng lúc tôi sờ vào hộp diêm, Poirot kêu lên một tiếng ngăn lại và lao về phía tôi. Chậm rồi! Cùng lúc tiếng động chói tai nổ tung, một luồng sáng xanh loé lên, rồi tất cả chìm trong tối đen.
Khi mở mắt trở lại, tôi thấy bộ mặt quen thuộc của một người bạn, bác sĩ Ridgeway, cúi xuống nhìn. Anh khẽ nói:
- Đúng cử động, anh đã khá hơn rồi. Tai họa khôn lường.
- Poirot đâu? - tôi hỏi.
- Anh đang ở nhà tôi. Mọi việc tốt. Đừng hỏi.
Một nỗi sợ kinh hoàng xâm chiếm hồn tôi; câu trả lời chung chung của bác sĩ làm tôi hoảng hồn.
- Poirot đâu? Anh ta sao rồi?
Ridgeway hiểu là tôi nhất định đòi biết sự thật, lảng tránh là vô ích.
- Anh thoát được là may lắm. Poirot không được như thế.
- Anh ấy chết rồi?
Bác sĩ cúi đầu, môi run run.
Tôi thu hết tinh lực, kêu to:
- Nếu Poirot chết, tinh thần anh vẫn sống! Tôi tiếp tục nhiệm vụ của anh!... Tiêu diệt bọn Bốn Người.
Và tôi lại ngã xuống, bất tỉnh.
Agatha Christie
Bộ Tứ
Người dịch: DƯƠNG LINH
Chưong XVI
TÊN TRUNG QUỐC HẤP HỐI
Ngay giờ phút này, tôi vẫn thấy khó nhọc khi kể lại những ngày tháng Ba ấy.
Poirot duy nhất, Hercule Poirot vô song đã chết. Vụ nổ đã tạo ra âm mưu quái quỷ gì vậy? Lời phê bình nửa đùa nửa thật của tôi với Poirot làm cho tôi vô cùng hối hận. Theo lời bác sĩ Ridgeway, tôi chỉ bị choáng mạnh và may mắn thoát chết; lẽ ra tôi cũng có thể không còn ở trên đời này nữa.
Chiêu hôm sau, tôi đã đứng dậy được, đi lảo đảo sang phòng bên cạnh để cúi đầu trước bộ quan tài bình dị chứa đựng những gì còn lại của một trong những người kiệt xuất của thời đại.
Ý kiẾn duy nhất của tôi là phải rửa thù cho Poirot, lao đi truy đuổi bọn Bốn Người, bắt chúng phải trả giá đắt.
Tôi nghĩ là Ridgeway sẽ ủng hộ tôi, song rất ngạc nhiên thấy bác sĩ tỏ vẻ lững lờ. Anh nói:
- Anh nên về Áchentina. Làm sao mà đội đá vá trời?
Tôi đoán anh ta nghĩ: Poirot, Poirot độc nhất vô nhị còn thất bại, thì tôi liệu có ăn thua gì?
Nhưng tôi quyết tâm, không cần biết mình có đủ bản lĩnh để hoàn thành nhiệm vụ hay không. Tôi đã tham gia cùng Poirot ngay từ đầu vụ việc, tôi là người duy nhất hiểu các phương pháp của anh; tóm lại, tôi có đủ tư cách để tiếp tục công việc!
Người bạn thân nhất của tôi bị hạ sát một cách bỉ ổi, tôi không thể trở về nhà như một tên hèn nhát mà không tóm cổ bọn giết người.
Tôi nói như vậy với Ridgeway, anh ta vẫn không khuyên tôi từ bỏ ý định.
- Anh không làm gì được đâu, và tôi tin Poirot nếu còn sống cũng giục anh về nhà. Nhân danh người bạn chung của chúng ta, tôi van anh, hãy gác kế hoạch rồ dại lại, trở về với trang trại của anh. Hãy nghĩ tới chị ấy đang chờ anh.
Thái độ của ông Growther giống hệt Ridgeway, nghĩa là khuyên tôi trở về Nam Mỹ; ông nói khéo léo và chân tình. Tôi xin được cộng tác với ông, ông từ chối. Ông bảo đảm đã có biện pháp phòng ngừa cần thiết theo đúng những chỉ dẫn mà Poirot để lại. Lời bảo đảm ấy còn lâu mới thỏa mãn tôi, nhưng chúng tôi đành chia tay ở đó.
Tôi xin lỗi chưa nói đến lễ tang Poirot. Tang lễ tổ chức trang trọng và cảm động. Cơ man bó hoa, vòng hoa của cả những người bình thường và quan chức nhân vật danh tiếng. Toàn thành phố London tỏ lòng ngưỡng mộ con người đã làm vinh dự cho đất nước mình cư trú. Tôi xúc động vô tả lúc bên bờ huyệt nhớ lại những hoạt động, lời nói, những ngày đẹp đẽ cùng sống.
Đầu tháng Năm, kế hoạch chiến đấu của tôi được hoàn thành. Tôi theo đúng chương trình của Poirot, cho đăng tiếp trên các bài báo lời nhắn để biết thêm tin tức về Claud Darrell. Một buổi sáng, ngồi trong một quan nhỏ ở Soho, tôi soát lại các lời nhắn tin đó. Nhưng khi giở sang trang để liếc qua tin tức trong ngày, tôi bật lên một tiếng kêu.
Tin viết vắn tắt, cho biết ông Ingles mất tích một cách bí ẩn trên tàu Thượng Hải, khi tàu này rời bến Marseille ít lâu. Người ta sợ là ông bị rơi xuống biển. Mẩu tin kết thúc bằng mấy lời nói về những việc ông đã làm tại Trung Quốc.
Tôi không tin đây là tai nạn: những kẻ giết Poirot cũng là những tên giết John Ingles!
Đang còn xúc động vì cái tin buồn thảm ấy, tôi ngửng đầu lên thì nghe có tiếng người gọi.
Đó là một người đàn ông gày, tóc nâu, cao trung bình, sắc da nhợt nhạt, bộ râu nhỏ cắt nhọn. Anh ta đã lặng lẽ đến ngồi cũng bàn, mà tôi không để ý.
Cử chỉ hắn rất kỳ lạ: hắn cúi đầu về phía tôi, xúc bốn nhúm muối vào đĩa của tôi, rồi cầm dao gõ bốn tiếng lên bàn, nói giọng đều đều:
- Xin lỗi, người ta nói mời muối một người lạ tức là muốn gây chuyện. Tôi không muốn thế, mặc dầu việc đó có thể khó tránh!... Tất cả tuỳ thuộc vào ông!... Mong ông tỏ ra hiểu biết.
Rồi hắn cố tình làm lại cử chỉ lúc nãy vào đĩa của hắn. Sự lặp lại con số bốn là quá rõ, không thể không hiểu. Tôi nhìn dò hỏi người khách lạ. Hắn không giống con trai Templeton, không giống James hoặc bất cứ nhân vật nào đã gặp trên đường đi. Tuy nhiên, hình như tôi đang đối mặt với tên "Số Bố”. Có lẽ chỉ có giọng nói của hắn gợi tôi nhớ tới giọng của kẻ mặc áo vén cao cổ đã đến gặp chúng tôi ở Paris.
Tôi nhìn xung quanh. Hắn nhận ra ngay sự lo lắng đó, mỉm cười và lắc đầu:
- Tôi yêu cầu ông giữ bình tĩnh. Đừng lặp lại cái trò hấp tấp ở Paris! Tôi đã chuẩn bị kỹ lưỡng đường rút lui... Đại úy Hastings, hãy bình tĩnh!... Ta trò chuyện một cách thân thiện.
- Đồ khốn kiếp! - Tức điên người, tôi quát.
- Chớ nổi nóng, ông bạn quá cố của ông sẽ nói kẻ nào giữ bình tĩnh là kẻ đó có lợi thế.
- Ngươi còn dám nói tới ông ấy, người mà các ngươi đã ám sát. Giờ lại còn đến đây...
- Tôi đến đây nhằm mục đích rất hòa bình; tôi chỉ đơn giản khuyên ông hãy quay ngay về Áchentina. Nếu ông nghe theo, Bộ Tứ sẽ quên ông. Ông và các bạn ông sẽ không bị phiền hà nữa. Tôi xin hứa.
Tôi làm bộ bất cần, hỏi:
- Và nếu tôi từ chối, các ngươi sẽ làm gì?
- Đại úy Hastings, tôi cảnh cáo ông! Khôn ngoan thì hãy nhớ lấy.
Hắn đột ngột đứng lên, tuồn nhanh ra cửa. Tôi chồm dậy đuổi theo, không may vấp phải một ông to béo chắn lối. Đến lúc có đường đi, thì con mồi đã thoát ra ngoài. Cùng lúc, một gã phục vụ ôm một chồng đĩa cao lại làm vướng lối đi. Khi tôi ra đến cửa, thì không nhìn thấy ai nữa.
Gã phục vụ không ngớt lời xin lỗi, còn ông to béo đàng hoàng ngồi vào bàn gọi thức ăn.
Bề ngoài, tôi chỉ không gặp may. Nhưng trong thâm tâm tôi tin chắc tất cả những người đó là tay chân của Bộ Tứ.
Tôi không thèm quan tâm đến lời cảnh cáo nọ, lòng quyết tâm hoặc thắng, hoặc chết thì thôi.
Tôi nhận được hai lời đáp cho mẩu nhắn tin; đó là từ những diễn viên cùng thời với Claud Darrell, nghĩa là đã lâu. Cả hai người này đều không thân thiết, không theo dõi những hoạt động cũng như đời tư của Darrell từ khi hắn giã từ sân khấu.
Mười ngày trôi qua không tiến triển được gì. Nhưng một buổi sáng, tôi đi ngang công viên Hyde Park, thì có một giọng êm ái của người nước ngoài gọi:
- Ông có phải là đại úy Hastings?
Một chiếc xe hơi đẹp đỗ xịch cạnh vỉa hè. Một phụ nữ sang trọng, mặc đồ đen, chuỗi ngọc đắt tiền đeo cổ, ngó người ra cửa xe. Tôi nhận ra nữ bá tước Rossakoff đã gặp ở Paris dưới cái tên Inez Véroneau. Mụ khốn nạn này cũng nằm trong băng cướp ấy!
Trước đây, vì lý do tiếng nào đó, Poirot có thái độ nương nhẹ với nữ bá tước. Chả là mụ có bộ điệu đàng hoàng của người đàn bà quý phái. Dù hành tung mụ thế nào, anh có vẻ không coi mụ là kẻ thù.
- Dừng lại đã - mụ nói. Tôi có điều này rất quan trọng nói với ông. Và nhất là đừng vội báo cảnh sát, như thế thật ngốc nghếch! Ông đã từng dại ngốc, và bây giờ vẫn dại ngốc không chịu nghe lời cảnh cáo. Tôi xin nói lần thứ hai: hãy rời nước Anh ngay lập tức. Ông không làm gì được ở đây đâu. Không hy vọng một kết quả.
- Nếu vậy - tôi gạt phắt - tôi lấy làm lạ sao tất cả các người đều muốn tôi đi khỏi?
Nữ bá tước nhún vai... và thú thật là mụ có đôi vai tuyệt trần!
- Phần tôi, tôi chẳng quan tâm, vì ông chẳng mấy nguy hiểm, nhưng cấp trên ngại rằng một tiếng nào đó lọt vào tai một tay cáo già nào siêu hơn ông. Ông phải biến ngay!
Nữ bá tước đã đánh giá thấp khả năng của tôi. Tôi không phản ứng, vì tin đó là cách nói cố tình, cốt làm cho tôi thấy mình chẳng quan trọng gì. Mụ nói tiếp:
- Gạt ông sang bên đôi với chúng tôi chẳng khó gì, nhưng đôi lúc, tôi cũng nổi cơn tình cảm, nên đã can thiệp giúp ông. Ông chả có một bà vợ xinh đẹp đó sao? Tôi biết là cái ông tội nghiệp đã chết sẽ rất vui biết ông được khoan nhượng. Tôi rất có cảm tình với ông ấy. Ông ấy rất thông minh! Nếu chúng tôi không là bốn người đánh một, tôi tin ông ấy sẽ thắng. Tôi đã gửi một vòng hoa đến lễ tang để tỏ lòng ngưỡng mộ. Một vòng hoa to, toàn hồng đỏ.
Tôi nghe mà càng lúc càng kinh tởm, nhưng không nói gì.
- Tội nghiệp đại úy Hastings, ông bướng như con lừa. Đừng ngoan cố nữa! Tôi đã nói lời cảnh cáo thứ hai. Nhớ rằng lời thứ ba sẽ tới từ tay "Kẻ tiêu diệt"!
Mụ ra hiệu cho lái xe, và chiếc ô tô đi khuất sau lối rẽ. Tôi ghi số xe, không hy vọng sử dụng. Về việc này, chúng rất tinh quái!
Từ tất cả những gì mụ bá tước nói, đọng lại một điều: tính mạng tôi đang lâm nguy. Không bỏ cuộc, nhưng phải hành động với muôn vàn thận trọng.
Cùng ngày, có người gọi tôi qua điện thoại:
- Alô! Đại úy Hastings! Đây là bệnh viện Saint-Gilles. Vừa chở đến một người Trung Quốc bị đâm ngoài phổi. Đang hấp hối. Chúng tôi gọi điện cho ông vì trong người hắn có mảnh giấy ghi tên và địa chỉ của ông.
Suy nghĩ một lát, tôi trả lời sẽ đến ngay.
Bệnh viện Saint-Gilles nằm trong khu phố cảng; có thể người Trung Quốc này mới đến chăng?
Dọc đường, tôi tự hỏi đây có phải là cái bẫy mới không. Liên quan người Trung Quốc, vậy có phải bàn tay của Li Chang-yen? Câu chuyện hồi nọ cũng trong khu phố này trở lại trong trí óc.
Tên Trung Quốc chắc lại nêu một số chỉ dẫn; nếu tôi theo, tôi sẽ sa vào tay bọn Bốn Người.
Vậy thì như Poirot sẽ làm, cứ giả vờ tin và cảnh giác.
Tới bệnh viện, tôi được đưa tới giường kẻ hấp hối. Hắn hoàn toàn bất động, mắt nhắm nghiền, chỉ ngực hơi phập phồng chứng tỏ hắn còn sống.
Một bác sĩ đứng bên, bắt mạch:
- Hắn kiệt sức rồi. Ông biết hắn không?
Tôi lắc đầu.
- Vậy thì sao hắn có tên và địa chỉ của ông? Ông đúng là đại úy Hastings ?
- Đúng, nhưng tôi cũng không hiểu gì hơn ông!
- Thật kỳ cục! Theo giấy tờ, người Trung Quốc này từng là gia nhân của một ông tên là Ingles, công chức hưu trí. Ông biết ông ta không?
Gia nhân của ông Ingles! Nếu vậy, tôi đã nhìn thấy anh ta. Thực ra tôi không bao giờ phân biệt được người Trung Quốc này với người Trung Quốc khác. Anh ta có thể đã tháp tùng Ingles ở Trung Quốc. Sau tai nạn xảy ra với chủ, hẳn anh ta trở lại nước Anh, mang theo một thông tin nào đó cho tôi. Sự việc trở nên quan trọng.
- Liệu anh ta có nói được không? - Tôi hỏi bác sĩ - Ông Ingles là bạn quen cũ, mà anh này có thể có điều gì cần truyền đạt với tôi! Ông biết là bản thân Ingles đã bị nạn cách đây khoảng mười ngày!
- Anh ta vẫn tỉnh, nhưng sau khi mất máu quá nhiều tôi sợ anh ta không còn sức để nói. Tôi sẽ trích một mũi trợ lực.
Trong khi bác sĩ tiêm thuốc, tôi đứng sát bên giường, hy vọng nghe một lời, hoặc thấy một cử chỉ gì soi sáng vấn đề. Nhưng từng phút trôi qua, vẫn không có gì.
Một ý nghĩ nản lòng thoáng qua: tên Trung Quốc này lạm nhận là gia nhân của John Ingles, nhưng biết đâu hắn chẳng là tay sai của Bộ Tứ? Tôi biết, một số sư sãi Tàu, rất giỏi giả vờ chết. Hơn nữa, Li Chang-yen có thể có dưới trướng cả một đội đệ tử mù quáng sẵn sàng xả thân phục vụ hắn.
Trong khi tôi nghĩ ngợi như thế, nạn nhân cựa quậy trên giường, mắt mở, hắn lầm bầm vài tiếng không rõ. Lát sau hắn trừng trừng nhìn tôi: tôi cảm thấy hắn muốn nói gì. Phải cố nghe thôi, dù hắn là bạn hay thù!
Tôi cúi xuống, nhưng những tiếng bập bõm nghe được không ra ý nghĩa gì.
Tôi loáng thoáng hiểu ra một từ “bàn tay". Rồi một từ khác "Largo". Hai từ ghép vào nhau có ý nghĩa thế nào?
- Bàn tay Largo? - tôi hỏi.
Tên Trung Quốc chớp mắt, như để xác nhận những từ tôi nhắc lại, rồi thốt ra một tiếng thứ ba nghe như tiếng Ý:
“Carrozza”. Một tiếng hầm hừ khó nghe nữa, một tiếng rên, rồi hắn ngật đầu về phía sau.
Người bác sĩ gạt tôi ra, thế là hết.
Tôi rời bệnh viện, cực kỳ hoang mang.
“Bàn tay Largo” và "Canozza". Những từ đó nghĩa gì?
"Carozza” tiếng Ý, có nghĩa "xe hơi”. Nhưng tên kia người Trung Quốc, không phải người Ý, tại sao hắn nói tiếng ấy?
Về tới nhà, tôi thấy có lá thư trên bàn. Liếc mắt qua, tôi thấy tim đập rộn ràng. Thư của công chứng viên viết cho tôi:
Kính thưa ông,
Theo đúng chỉ dẫn của thân chủ tôi là ông Hercule Poirot, chúng tôi xin chuyển tới ông lá thư kèm theo đây. Thư này được ông Poirot giao chúng tôi một tuần trước khi mất, với lời dặn là chuyển tới ông một thời gian nào đó sau khi ông chết. Xin kính gửi ông lời... vân vân.
Tôi lật đi lật lại chiếc phong bì kèm theo. Không nghi ngờ gì nữa, đúng là nét chữ của Poirot mà tôi từng biết rõ. Lòng hồi hộp, tôi run run mở phong bì.
Bạn thân mến,
Thư này đến tay anh thì tôi không còn trên đời này nữa. Đừng khóc thương tôi, hãy nghe lời tôi dặn. Ngay khi nhận mấy chữ này, hãy trở về Áchentna; đùng cố tình theo đuổi vụ này nữa. Tôi khuyên vậy không phải chỉ vì tình cảm, mà nó nằm trong kế hoạch của tôi. Với một người thông minh như anh, thiết tưởng không cần nói gì thêm.
Đả đảo bọn Bốn Nguời từ cõi vĩnh hằng. Xin gởi lời chào.
HERCULE ROIROT
Tôi đọc đi đọc lại lá thư bất ngờ này. Một điều hiển nhiên: anh bạn kỳ diệu của tôi đã giỏi dự trù mọi khả năng, đến mức chết rồi mà vẫn tiếp tục kế hoạch hành động! Anh vẫn là thiên tài chỉ đạo mọi việc, tôi chỉ còn biết làm tròn nghĩa vụ người thừa hành.
Về tới bên kia đại dương, chắc tôi sẽ nhận được chỉ dẫn cụ thể; trong khi đó, kẻ thù yên trí là đã khuất phục được tôi, sẽ không quan tâm nữa; và sau đó tôi có thể trở lại không bị nghi ngờ, và sẽ đập tan mọi âm mưu của chúng.
Cho nên tôi quyết định ra đi không chậm trễ, và tám ngày sau, tôi lênh đênh trên tàu Ansonia tiến thẳng về Buenos-Aires.
Tàu vừa rời bến, người phục vụ mang tới một mảnh giấy, do một người to béo mặc áo lông đưa cho anh, ông này đã rời tàu ngay lúc tàu kéo cầu.
Nội dung thư rất ngắn: “Ông làm thế là tốt". Dưới ký số 4 to. Tôi mỉm cười.
Biển tương đối lặng. Tôi bình thản ăn tối, tự tiêu khiển bằng cách quan sát một số khách cùng đi. Cuối cùng, chơi một ván bài, rồi đi ngủ. Trên tàu bao giờ tôi cũng ngủ như chết.
Giữa đêm, tôi bị đánh thức một cách kỳ lạ nhất. Bị lay mạnh, tôi mở mắt và bàng hoàng nhìn thấy một sĩ quan; anh ta có thể mừng vì tôi đã tỉnh dậy!
- Lạy Chúa! Tôi cứ tưởng ông không thức dậy nữa!
- Chuyện gì vậy? - tôi hỏi - Cháy tàu à?
Viên sĩ quan cắt gọn:
- Việc gì thì ông biết hơn mới phải; chúng tôi nhận được lệnh đặc biệt của Bộ Hải quân; một khu trục hạm đang chờ để đưa ông đi.
- Sao! - tôi kêu - Giữa biển khơi?
- Đúng thế, việc này rất lạ, nhưng lệnh là lệnh. Một người trẻ tuổi đã rời khu trục hạm, lên tàu này để thế chỗ ông. Chúng tôi được lệnh giữ bí mật tất cả chuyện này. Mời ông dậy và mặc quần áo!
Tôi làm theo, lòng phân vân khôn tả. Một chiếc salúp đưa tôi sang khu trục hạm. Viên thiếu tá tiếp tôi lịch sự, nhưng không giải thích gì hơn. Ông được lệnh trả tôi lên bờ nước Bỉ, sau đó là hết trách nhiệm.
Tôi có nằm mơ không? Không, trò này hẳn nằm trong kế hoạch của Poirot; vả lại tôi đâu có được lựa chọn. Tốt nhất cứ làm theo và tin tưởng tuyệt đối. Tôi được đưa lên bờ ở một nơi vắng vẻ, có ôtô đợi. Xe đưa tôi qua vùng đồng bằng. Tôi nghỉ đêm trong một khách sạn nhỏ ở Bruxelles, và sáng hôm sau tiếp tục đi. Cảnh trí dần hiểm trở hơn, chúng tôi tới dãy Ardeunes. Điều này làm tôi nhớ đến người em sinh đôi của Poirot, cư trú gần Spa. Nhưng rồi xe rời đường lớn, đi vào một hướng khác. Cuối cùng, sau nhiều giờ, chúng tôi dừng lại ở một xóm nhỏ, trước một ngôi nhà lẻ loi trên sườn đồi.
Cánh cửa màu xanh mở ra, và một ông già người hầu đỡ tôi xuống xe.
- Ngài đại úy Hastings phải không ạ? - Ông cụ hỏi - Ông chủ đang đợi... mời ngài đi theo tôi...
Ông cụ dẫn tôi qua sảnh, mở một cánh cửa rồi né sang bên để tôi vào.
Căn phòng đầy ánh sáng mặt trời khiến mắt tôi hấp háy. Cuối cùng tôi thấy một người đang đợi, giơ hai tay đón.
Đó là không!... Tôi mê ngủ!... Nhưng rõ ràng...
- Poirot! - Tôi kêu lên, và lao vào vòng tay anh, ôm chặt.
- Đúng, tôi đây! Hercule Poirot đâu có dễ chết vậy!
- Nhưng... nhưng... chuyện thế nào?
- Chỉ là mưu mẹo chiến đấu, anh bạn. Và bây giờ, ta sẵn sàng quây mẻ lớn.
- Thế mà anh để tôi tưởng anh đã chết? Không biết xấu hổ. Anh phải tin tôi chứ, và cho tôi biết trước.
- Không thể được, như vậy anh sẽ không đóng đúng vai của mình trong lễ tang. Sự đau buồn của anh là bằng chứng tốt nhất rằng tôi đã chết. Chỉ có cách ấy mới đánh lừa được bọn Bốn Người!
- Thế mà tôi đã đau đớn...
- Thì tôi đâu có phải vô tri. Cũng vì lợi ích của anh mà tôi chọn cách ấy. Tôi sẵn sàng chịu hiểm nguy trước tính mạng, nhưng không muốn để tính mạng anh nguy hiểm. Sau khi nghĩ kỹ, tôi đã có ý kiến giả chết, ông bác sĩ Ridgeway giúp tôi làm việc đó. Thực ra tôi tưởng sau đó, anh sẽ trở về Áchentina, nhưng anh không chịu, nên tôi mới phải dùng đến lá thư để lại trước khi chết! Điều quan trọng là anh đã ở đây. Từ nay đến lúc hữu sự, bọn Bốn Người cần phải nghĩ hai ta đều vắng mặt.
Agatha Christie
Bộ Tứ
Người dịch: DƯƠNG LINH
Chưong XVII
"SỐ BỐN" LẠI THẮNG
Từ nơi trú tạm ở Ardennes, chúng tôi theo dõi mọi việc xảy ra ở trên thế giới rộng lớn.
Chúng tôi có đủ các thứ báo, và mỗi sáng, Poirot lại nhận một phong bì dày, chắc là báo cáo. Mặc dù anh không nói gì, tôi cứ nhìn nét mặt anh là biết tin tức có tốt lành hay không.
- Anh biết không, tôi rất khổ tâm biết anh luôn gặp nguy hiểm, trong khi tôi yên trí ở đây. Tôi bồn chồn không yên, và anh không thể tưởng tượng tôi mừng thế nào khi kéo được anh về gần tôi! Dù đối thủ phát hiện ra đại úy Hastings vừa cập bến bên kia đại dương là một kẻ giả danh, thì không có gì đáng sợ. Chúng sẽ suy ra là anh định đánh lạc hướng chúng, và không hơi đâu để theo dõi hành động của anh. Hơn nữa tên tay chân của Bộ Tứ ở Buenos-Aires có trách nhiệm xác nhận anh đã tới nơi, chưa chắc đã biết mặt anh. Điều cốt yếu mà chúng nắm được, là tôi đã chết. Vì vậy, chúng sẽ xúc tiến tích cực các kế hoạch.
- Rồi sao?
- Rồi sao ư? Sẽ là sự hồi sinh vĩ đại của Hercule Poirot! Tôi sẽ tái xuất hiện vào phút chót, và sẽ thắng lợi vang dội!
Đúng là Poirot không thay đổi! Luôn tự tin là mình hơn hẳn. Tôi khéo léo nhắc anh nhớ là đối phương đã nhiều lần giành lợi thế. Nhưng thật vô ích khi vấp phải sự mê tín của Poirot đối với chính mình.
- Anh thấy không, đúng là anh phải biết cái ngón bài sau. Anh lấy bốn quân tốt, để rải rác trong cỗ bài, anh trang bài... mà cuối cùng bốn quân tốt vẫn ở bên nhau! Chính tôi đang muốn điều ấy; tôi đã đánh lúc tên này, lúc tên khác, nhưng hãy chờ lúc tôi gom cả bốn đứa lại, như bốn quân tốt của cỗ bài, và anh sẽ chỉ thấy một keo, tôi sẽ hạ cả bốn.
- Đồng ý, nhưng anh làm thế nào mà gom chúng lại?
- Tôi chờ cái phút đỉnh cao mà chúng tụ nhau lại nhằm một hành động chung. Còn từ nay đến đó, tôi tiếp tục giả chết.
- Nhưng phải chờ bao lâu nữa?
- Anh vẫn hay nóng vội, anh Hastings! Nhưng không, hãy yên tâm, không lâu nữa đâu. Người duy nhất trên đời mà chúng sợ (tức là tôi) đã chết.
Do liên tưởng, tôi nghĩ đến cái chết của ông Ingles, và tôi kể Poirot nghe về tên Trung Quốc ở bệnh viện Saint-Gilles. Poirot có vẻ rất chú ý.
- Tên gia nhân của John Ingles?... Và anh bảo là hắn đã nói mấy từ tiếng Ý?... Kỳ lạ thật!
- Vì thế tôi mới cho là lại một âm mưu nữa của chúng!
- Sai lầm lớn! Hãy bắt chát xám làm việc, và anh sẽ thấy nếu đối thủ muốn nhét gì vào đầu anh, chúng sẽ diễn tả bằng tiếng Anh! Không! Người anh gặp thực tình muốn nhắn anh điều gì. Anh thử nhắc lại những lời nghe thấy xem nào.
- Đầu tiên, hắn nói cái gì như là: "Bàn tay Largo", rồi hình như là "Carrozza" ... nghĩa là "xe hơi", có phải không?
- Có thế thôi?
- Cuối cùng tôi nghe như "Cara", rồi một tên phụ nữ, "Zia", thì phải. Chẳng liên quan gì đến khúc đầu.
- Anh lầm rồi, Hastings! Trái lại, “Cara Zia" rất quan trọng!
- Quan trọng ở chỗ nào?
- Ôi, anh không bao giờ thấy gì cả! Cực hơn nữa, giống như tất cả người Anh, không thuộc địa dư.
Theo thói quen, Poirot không nói gì hơn nữa. Sự im lặng ấy càng làm tôi bực tức. Nhưng tôi thấy anh ra vẻ mừng rỡ, và tôi biết niềm vui ấy có nghĩa là: nhà thám tử đánh hơi thấy một dấu vết mới.
Ngày lại ngày trôi qua, nhàn tản và hơi đơn điệu. Đành rằng ngôi nhà có một tủ sách rất tốt, hoặc có thể có những cuộc dạo chơi thú vị ở vùng lân cận song tôi cứ thấy bứt rứt vì quá rỗi rãi. Trong khi đó, Poirot vẫn bình thản như không.
Cho đến cuối tháng Sáu. Một buổi sáng, từ sớm, một xe hơi đậu trước cửa nhà: đó là sự kiện hiếm hoi ở cái xóm nhỏ này khiến tôi phải tò mò đi xuống xem là ai. Poirot đang chuyện trò với một trang nam nhi bộ điệu dễ mến.
- Hastings, xin giới thiệu đại úy Harvey, một nhân viên xuất sắc của cơ quan mật vụ nước ta.
- Tôi không xuất sắc đến thế đâu - Harvey cười thật thà.
- Không xuất sắc đối với ai không hiểu biết; còn với những người biết rõ, thì anh là xuất sắc! Hastings, anh có tưởng tượng không, trong giới thượng lưu người ta coi đại úy Harvey là một công tử bột chỉ biết nhảy tăng-gô, uống rượu và mê ca-vát.
Harvey và tôi cùng cười. Poirot nói:
- Nào, ta vào việc. Anh cho là đã đến lúc?
- Chúng tôi tin là đã đến lúc.
- Li Chang-yen đã xuất đầu lộ diện. Còn những tên khác?
- Abe Ryland đã tới nước Anh cách đây tám ngày và hôm qua đã rồi đó đi Châu Âu.
- Mụ Olivier?
- Đêm qua đã rời Paris.
- Đi Ý?
- Phải, đi Ý. Cả hai chắc đi đến cái nơi ông đã chỉ... Nhưng sao ông biết?
- Thành tích này không phải của tôi, mà của ông bạn Hastings. Anh ấy khiêm tốn, giấu tài cán của mình.
Harvey quay nhìn tôi vẻ ngưỡng mộ, làm tôi hơi ngượng.
- Thôi thế là mọi việc tiến triển - Poirot nói - Thời điểm đã đến; mọi biện pháp đã sẵn sàng.
- Mọi chỉ thị của ông đã được tiến hành. Các chính phủ ủng hộ chúng ta và hợp tác thân thiện.
- Một Hội Quốc Liên mới! - Poirot mỉm cười. Rồi trở lại nghiêm túc, anh thêm:
- Rất mừng là Desjardeaux cuối cũng đã được thuyết phục. Nào! Chúng ta sẽ bắt đầu, hay đúng hơn, tôi bắt đầu. Hastings, tôi muốn anh ở lại đây, không muốn anh bị nguy hiểm.
Tôi phản đối cực lực, Poirot đành chịu.
Trên chuyến tàu đưa chúng tôi đi Paris, anh thú nhận là rất vui có tôi bên cạnh.
- Anh sẽ đóng một vai trò, vai quan trọng! Tôi có nghĩa vụ báo anh biết, nếu không nghe tôi, chiến dịch này sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
- Có nguy hiểm ư?
- Anh bạn thân mến, dính đến bọn Bốn Người bao giờ cũng nguy hiểm.
Tới Paris, chúng tôi ra ga miền Đông. Lúc này Poirot mới cho tôi biết sẽ đi Boljano, rồi tới vùng Tyrol nước Ý.
Nhân lúc vắng mặt Harvey chạy đi đâu đó, tôi hỏi tại sao Potrot gán cho tôi cái thành tích tìm ra cơ hội họp của đối phương.
- Vì đúng là thế mà! Bằng cách nào Ingles biết được, tôi không rõ. Nơi chúng ta sắp đến gọi là Karersee, mà tên mới người Ý gọi là “Largo de Carezza". Bây giờ anh hiểu chưa, cái mà anh nghe nói là “Carezza”, “Cara Zia" và “Largo" ấy. Còn “bàn tay”, chắc là anh tưởng tượng ra thôi, trừ khi tên gia nhân muốn nói đến “Bàn tay bọn Bốn Người”
- Tôi chưa từng nghe nói Karersee là nơi nào.
- Thì tôi bảo mà, người Anh không thuộc địa dư. Đó là một nơi tuyệt đẹp, nhiều ngươi biết. Ở độ cao một ngàn hai trăm mét trên dãy Dolosmites.
- Và bọn Bốn Người hội họp ở đó?
- Đại bản doanh của chúng ở đấy. Lệnh báo động đã phát, nên chúng chỉ mong được biến nhanh. Từ trong lòng pháo đài nằm sâu trong núi, chúng tiếp tục phát đi mệnh lệnh. Tôi đã tìm hiểu, đó là một mỏ đá hiện đang khai thác. Dường như đây là một cơ nghiệp của Ý, nhưng thực ra nó thuộc Abe Ryland. Tôi cam đoan là ở đó, trong lòng núi, có một pháo đài ngầm. Từ nơi ẩn náu này, bọn chỉ huy ra lệnh bằng vô tuyến điện. Chúng có hàng ngàn tay chân ở mỗi nước, sẵn sàng thi hành. Chính từ cái pháo đài dãy Dolomites này sản sinh những tên ghê gớm, hay đúng hơn chúng có thể xuất hiện, nếu Hercule Poirot này không ra tay!
Harvey trở lại, làm câu chuyện giữa chúng tôi gián đoạn. Chúng tôi tới Boljano vào giữa trưa, và lại lên xe để leo tới Karersee. Trời nóng, nhưng Poirot ăn bận trùm kín đến mặt: anh đề phòng gì, hay sợ bị cảm? Chuyến đi kéo dài hai tiếng. Phong cảnh thật sự tuyệt vời. Sau khi qua một thung lũng màu mỡ rộng hàng cây số, chúng tôi lên dốc tới những chòm núi đá. Mỗi bước ngoặt lại mở ra một viễn cảnh mới. Con đường khúc khuỷu len lỏi giữa các khối đá hiểm trở. Cuối càng, ô tô dừng trước một khách sạn lớn, có vị trí tuyệt đẹp.
Họ đã giữ cho chúng tôi những phòng trông ra núi: cảnh đỉnh núi đá với những sườn phủ đầy thông thật thần tiên.
- Ở đây ư? Poirot khẽ hỏi.
- Phải - Harwey đáp - Có một nơi gọi là "Mê cung đá"; toàn những tảng đá khổng lồ, hình thù quái đản! Mỏ đá ở phía phải, nhưng tôi đã nghĩ là lối vào ở ngay trong mê cung.
Poirot ra hiệu cho tôi:
- Lại đây, ta xuống sân thượng, hưởng ánh nắng.
- Anh thấy thế có nên không?
Anh nhún vai thay trả lời.
Ánh sáng chói chang, mắt tôi khó chịu đựng. Chúng tôi dùng một tách cà phê rồi lên phòng để xếp đồ đạc. Poirot có vẻ như đắm chìm trong giấc mơ. Một hai lần, thấy lắc đầu và thở dài.
Lúc xuống tàu ở Boljano, tôi để ý có một người khách đợi xe. Điều làm tôi để ý, là người ấy cũng ăn bận trùm kín, hơn cả Poirot! Ngoài chiếc áo khoác ngoài thùng thình và chiếc khăn len trùm mũi, người ấy còn đeo kính xanh mắt to. Tôi nghi là một tên tay sai của Bộ Tứ.
Tôi nói điều đó với Poirot, nhưng anh chẳng có vẻ quan tâm. Ít lâu sau, tôi thông báo với anh là người khách nọ đang lảng vảng trước khách sạn, tôi nhìn qua cửa sổ và trông thấy.
Mặc tôi nói, Poirot vẫn đòi xuống phòng ăn, và chúng tôi được một ngồi vào bàn cạnh cửa sổ. Chúng tôi ngồi chưa ấm chỗ, thì tiếng quát mạnh và tiếng bát đĩa vỡ loảng xoảng vang lên: một cậu bồi bàn vụng về đã đổ cả một đĩa thức ăn lên vai một thực khách ngồi ở bàn cạnh chúng tôi.
Người quản lý vội vàng chạy đến xin lỗi rỗi rít.
Lát sau, khi anh bồi bàn đó đến phục vụ chúng tôi, Poirot nói nhỏ:
- Thật là sự cố đáng tiếc, song lỗi không phải tại anh.
- Ông đã trông thấy? Vâng, đúng không phải tại con. Ông ấy đột nhiên đứng chồm lên, cứ như là đang lên cơn gì vậy!
Một ánh mắt ranh mãnh loé lên trong mắt Poirot. Cậu bồi bạn đi rồi, anh ghé vào tai tôi:
- Anh thấy chưa, hiệu quả của việc tôi xuất hiện bằng xương bằng thịt.
- Sao... Anh nghĩ là?
Tôi không kịp nói hết câu, Poirot đã đặt tay lên đầu gối tôi, nói nhẹ, nhưng hơi xúc động:
- Nhìn xem, cái tật hắn vo viên bánh mì! "Số Bốn” đó!
Đúng thế. Người khách ngồi bên cầm một mẩu ruột bánh di di trên bàn.
Tôi quan sát kỹ lưỡng: bộ mặt sàm sạm, bì bì có một vẻ không lương thiện. Những nếp nhăn dưới mắt, đi từ cánh mũi đến hai bên mép càng tăng vẻ xấu xí. Hắn trạc từ băm nhăm đến bốn nhăm và không giống bất cứ một nhân vật nào hắn từng đóng vai. Nếu Poirot không chỉ cho tôi cái tật của hắn, tôi sẵn sàng thề là chưa bao giờ gặp hắn.
- Nó đã nhận ra ta - tôi khẽ nói - Lẽ ra anh không nên xuống ăn ở đây.
- Thì tôi giả chết ba tháng nay chỉ nhằm một mục đích này!
- Để tóm được tên "Số Bốn”?
- Phải, để bắt được hắn ở lúc mà hắn phải hành động ngay hoặc không làm gì cả. Lúc này, ta có lợi thế: hắn không biết rằng ta nhận ra hắn. Hắn tưởng vẫn an toàn trong vai kịch của hắn. Ôi, cảm ơn Flossie Monro đã lộ ra cái tật của hắn.
- Giờ chuyện gì sẽ xảy ra?
- Có thể xảy ra cái gì? "Số Bốn” nhận ra người duy nhất mà hắn sợ, sống lại một cách thần kỳ đúng lúc kế hoạch Bộ Tứ được đặt lên bàn cân. Mụ Olivier và Abe Ryland đã ăn trưa hôm nay tại đây: chính thức thì chúng đã đi Cartinas, nhưng thực tế chúng đang nằm trong hang ổ. Giờ này, chắc chắn "Số Bốn" đang phân vân tự hỏi chúng ta đã biết những gì. Hắn không muốn mạo hiểm, do đó chỉ còn một việc chắc chắn là hắn phải trừ khử được tôi. Vậy thì hắn cứ thử trừ khử đi, tôi đợi!
Lúc Poirot nói xong, người khách ngồi bàn bên đứng dậy đi ra.
- Hẳn đi để chuẩn bị đấy - Poirot bình thản nói - Ta dùng cà phê ngoài sân thượng nhé? Như thế thú hơn. Tôi lên phòng lấy chiếc áo khoác.
Tôi ra sân thượng, lòng ngổn ngang trăm mối. Sự tự tin bề ngoài của Poirot không làm tôi an tâm. Tôi quyết định phải rất cảnh giác.
Năm phút sau Poirot trở lại, trang bị đầy đủ để chống rét, áo chùm cao lên tai. Anh ngồi cạnh tôi, nhấm nháp cà phê.
- Cà phê ở Anh là dở nhất - anh nhận xét - Ở đây, trên lục địa, người ta biết cách pha cà phê, điều đó rất cần vì cà phê giúp tiêu hóa tốt.
Bỗng nhiên người khách lúc nãy xuất hiện và không do dự, tiến thẳng về phía chúng tôi.
- Cho phép tôi được ngồi cùng bàn? - Hắn hỏi bằng tiếng Anh.
- Tất nhiên rồi! - Poirot đáp.
Mặc dù chung quanh đông người, tôi thấy ngài ngại, lo nguy hiểm xảy ra.
Tên "Số Bốn” tự nhiên như không, nói chuyện về những chuyến tham quan, đi dạo. Không thể coi hắn là cái gì khác hơn một khách du lịch.
Hắn rút ống điếu từ trong túi và châm thuốc. Poirot cũng rút hộp thuốc lá. Anh vừa đưa điếu thuốc lên miệng, người lạ đã xoẹt diêm, nghiêng về phía anh:
- Cho phép tôi châm lửa cho ông!
Hắn vừa nói xong, tất cả đèn đóm đều tắt. Tôi thấy có gì gõ nhẹ vào đầu, cổ ngạt thở vì một mùi quái lạ…
Agatha Christie
Bộ Tứ
Người dịch: DƯƠNG LINH
Chưong XVIII
MÊ CUNG NÚI ĐÁ
Tôi chỉ ngất đi khoảng một hay hai phút. Lúc tỉnh lại, cảm thấy hai người mỗi người cầm một tay kéo tôi đi. Miệng bị nhét giẻ. Tối đen kịt. Tôi hiểu mình bị lôi ngang qua khách sạn. Tứ phía, những câu hỏi vang lên bằng đủ các thứ tiếng: mất điện, tai nạn? Lũ bắt người đưa tôi xuống mấy bậc thang rồi tiếp tục đi trong một hành lang ngầm dưới đất. Rồi qua một cái cửa, đi ra ngoài. Ít phút sau, tới một rừng thông.
Tôi nhận ra một người nữa cũng bị kéo như tôi và suy ra đó là Poirot, cũng là nạn nhân cú đánh úp vừa rồi.
Nhờ sự táo bạo, tên "Số Bốn” đã thắng: chắc hắn dùng một thuốc mê cực nhạy như là chlorua êthyl. Hắn đã bẻ ống thuốc ngay dưới mũi chúng tôi. Tiếp đó, nhờ đèn tắt, những tên tòng phạm ngồi ở một bàn bên, đã xô tới bịt miệng và kéo chúng tôi đi không bị ai truy đuổi.
Thật khó mô tả cuộc hành trình. Chúng bắt chúng tôi trèo, trèo, trèo, cuối cùng tới một sườn núi, cạnh đó dựng đứng một khối đá hãi hùng, quái đản. Hẳn đây là “mê cung núi đá" mà Harvey đã nói.
Sau khi đã lôi chúng tôi đi qua những lối khúc khuỷu, bọn chúng dừng lại ở một khối đá khổng lồ đứng chắn lối. Một tên cúi xuống để đẩy vật gì. Rất yên lặng, khối đá xoay trên trục, để lộ một đường hầm nhỏ đi sâu vào núi. Chúng tôi bị đẩy vào đi theo một hành lang hẹp, càng đi càng rộng ra. Rồi tới một phòng rộng có ánh sáng điện. Chúng bỏ giẻ bịt miệng. Tên "Số Bốn” ra lệnh cho tay sai lục soát: các túi của chúng tôi bị moi móc hết cả đồ vật, kể cả khẩu súng lục nhỏ của Poirot. Tôi kinh hoàng nghĩ thế là hết phương tiện tự vệ; bọn chúng đông hơn chúng tôi rất nhiều. Mọi hy vọng tiêu tan, dấu chấm hết đã tới.
- Ông Hercule Poirot, xin hoan nghênh ông đã tới đại bản doanh của Bộ Tứ - Tên "Số Bốn” nói ngạo nghễ - Vui mừng biết bao được gặp lại ông! Nhưng nói thật nhé, công phu sống lại mà đến thế này thì thật uổng phí.
Poirot không thèm đáp. Tôi cũng không buồn ngước nhìn hắn.
- Xin mời vào - tên "Số Bốn" nói tiếp - Ông đến, làm các đồng nghiệp của tôi thật bất ngờ.
Qua một cửa nhỏ đục vào tường, chúng dẫn chúng tôi sang phòng bên cạnh. Ở đầu kê một bàn và bốn ghế. Một chiếc phủ gấm sang trọng, chưa có người ngồi. Trên ghế thứ hai, là Abe Ryland chễm chệ với điếu xì gà luôn ở trên môi; ghế thứ ba là Olivier. Tên "Số Bốn” ngồi ghế thứ tư. Chúng tôi đứng trước Bộ Tứ Vĩ Đại. Dù Li Chang-yen vắng mặt, ghế hắn để trống, dù hắn ở xa, rất xa, tận Trung Quốc, bản lĩnh mạnh mẽ của hắn vẫn ngự trị trên cái tổ chức tội ác này.
Thấy chúng tôi, mụ Olivier thốt lên một tiếng ngạc nhiên. Abe Ryland trầm tĩnh hơn, chỉ động đậy điếu xì gà và ngước đôi lông mày điểm bạc.
Ryland thong thả nói:
- Thật vui được gặp ông, ông Poirot, chúng tôi cứ tưởng ông chôn chặt dưới đất rồi! Không sao! Giờ đây, màn kịch đã kết thúc.
Giọng hắn không hứa hẹn gì tốt lành.
Mục Olivier không nói gì, song đôi mắt và nụ cười của mụ nói nhiều.
- Thưa quý bà và quý ông, tôi xin gửi lời chào - Poirot bình tĩnh.
Có cái gì bất ngờ, kỳ lạ trong giọng nói của anh làm tôi ngạc nhiên và phải quay lại nhìn ; anh hoàn toàn bình tĩnh, tuy nhiên tôi vẫn thấy ở thái độ anh có gì thay đổi.
Tiếng váy áo sột soạt phía sau chúng tôi, và nữ bá tước Vera Rossakoff bước vào. "Số Bốn" reo lên:
- A! Đây là trợ tá quý báu và trung thành của chúng tôi. Thưa bà, một người bạn cũ của bà đang có mặt.
- Ồ, là ngài thám tử nhỏ bé? Ông sống dai quá nhỉ! Khổ thân ông, ông dính vào chuyện này thật là dại.
Không hề bối rối vì sự xởi lởi của nữ bá tước, Poirot cúi chào, bình tĩnh đáp:
- Tôi ưa mạo hiểm. Chỗ nào có hiểm nguy là tôi bị hút vào.
Nghe giọng nói, nữ bá tước nhìn anh một cách nghi hoặc, và mối linh cảm của tôi lập tức trở thành khẳng định.
Người đứng bên tôi không phải là Hercule Poirot!
Hai người giống nhau một cách kỳ lạ: cũng đầu tròn như kẹo, bộ điệu cố làm ra khoan thai, người hơi mập. Duy giọng nói, đôi mắt là hơi khác; còn bộ ria, bộ ria nổi tiếng...
Nữ bá tước dứt tôi ra khỏi dòng suy nghĩ:
- Các người lại bị lừa một lần nữa! Người này không phải Hercule Poirot!
Tên "Số Bốn” thốt lên tiếng kêu, chưa tin. Nhưng nữ bá tước tiến đến Poirot, cầm ria mép giật phăng. Lần này sự thật đã rõ ràng!
Thật vậy môi trên của người này có sẹo nhỏ, làm nét mặt khác hẳn. "Số Bốn” lẩm bẩm:
- Không phải Hercule Poirot, vậy là ai?
- Tôi biết - tôi kêu lên, rồi dừng lại đột ngột, sợ rằng mình đã làm hỏng việc.
Chàng Poirot giả quay về phía tôi, khích lệ:
- Ông cứ nói, điều ấy chẳng thay đổi gì. Mưu mẹo đã hoàn thành.
- Đó là Achille Poirot - tôi nhấn từng lời - anh em sinh đôi của Hercule Poirot.
- Không thể thế - Ryland nói, vẫn nghi ngờ.
- Kế hoạch của anh tôi tỏ ra rất tuyệt vời - Achille không bối rối, nói.
Tên "Số Bốn” lại gần, dữ tợn:
- Ngươi chắc thế không? Chớ quên là các ngươi sắp chết đến nơi.
- Ô! Tôi sẵn sàng chờ - Achille nghiêm trang đáp - Ông thừa biết rằng con người có thể hy sinh vì chính nghĩa. Tôi sẽ cứu thế giới, dù phải trả giá bằng mạng sống.
Ryland cay độc:
- Ngươi hy sinh mạng sống, thì cứu được gì cho thế giới?
- Rõ là ông chưa nắm được tầm rộng lớn kế hoạch của Hercule. Cho phép tôi báo ông biết là hang ổ của ông đã bị phát hiện từ nhiều tháng nay, và tất cả khách du lịch cùng nhân viên khách sạn đều là người của Sở Mật vụ! Đã thiết lập một hàng rào bao vây quả núi, và dù có nhiều lối thoát bí mật, các ông cũng bị tóm. Đích thân Poirot chỉ huy chiến dịch. Tối nay, trước khi xuống sân thượng thế chỗ anh tôi, tôi đã tẩm đế giầy bằng dầu hôi để chó săn đánh hơi theo dấu. Chúng sẽ tìm ra tảng đá ở lối vào Mê cung. Các ông muốn làm gì chúng tôi, thì mẻ lưới vẫn đang bủa chặt! Các người đừng hy vọng thoát.
Mụ Olivier cười gằn:
- Ông nhầm, chúng tôi có một cách thoát, đó là cách Samson đã dùng. Cùng lúc, chúng tôi tiêu diệt mọi kẻ thù. Các ngài nghĩ sao? - Mụ hỏi, quay về Ryland và "Số Bốn".
Ryland chăm chăm nhìn Achille, lên tiếng khàn khàn:
- Nếu hắn đánh lừa ta?
Achille nhún vai:
- Một giờ nữa trời sáng, các ông dễ dàng kiểm tra những lời tôi nói. Lúc này, dấu tích tôi chắc chắn đã được theo sát.
Achille vừa nói hết câu thì có tiếng động lạ, một người chạy vào phát ra những lời khó hiểu. Ryland chồm lên bỏ ra. Mụ Olivier lùi vào cuối phòng, mở một cái cửa mà trước đó tôi không để ý; qua đó tôi thoáng nhìn thấy một phòng thí nghiệm trang bị hiện đại. "Số Bốn” cũng vội đứng dậy và đi ra. Hắn quay lại ngay, đưa cho nữ bá tước khẩu súng lục của Poirot.
- Ta không sợ chúng chạy thoát đâu - hắn nói vẻ hung dữ - nhưng muốn cẩn thận bà hãy giữ vũ khí này.
Rồi hắn lại biến.
Nữ bá tước nhìn chăm chú một lát vào người đồng hành của tôi, rồi phá lên cười:
- Ông gớm thật đấy, ông Achille Poirot - mụ giễu cợt
- Thưa bà, ta nói chuyện sòng phẳng. Họ để chúng ta ở lại với nhau thế này là một dịp may. Bà ra giá bao nhiêu?
- Tôi không hiểu ông nói gì?
- Bà biết các lối ra bí mật, bà giúp chúng tôi chạy thoát vì thế tôi hỏi bà đòi giá bao nhiêu.
Mụ lại phá lên cười lần nữa:
- Cao hơn sức ông có thể trả nhiều, hỡi chàng trai! Nhớ cho kỹ là cả kho vàng của thế giới không mua được tôi.
- Bà không hiểu tôi, tôi không nói tiền. Mỗi người chúng ta đều có giá trị nhất định, và tôi tự cho là có thể thực hiện được điều ước thầm kín nhất của bà, để đổi lấy tính mạng và tự do.
- Nói cách khác, ông tự cho là có phép phù thủy?
- Cũng được, nếu bà muốn.
Nữ bá tước không còn giọng giễu cợt nữa. Con mắt bỗng buồn man mác, mụ nói nhỏ:
- Các người điên!... Mong ước tha thiết nhất của ta ư? Ngươi có trả được cho ta tuổi trẻ? Ngươi có thể làm người chết sống lại?
Achille Poirot quan sát rất kỹ người đàn bà:
- Trong hai điều đó, bà ước điều gì nhất? Bà hãy chọn!
Mụ bật tiếng cười bất cần:
- Ngươi sẽ có thuốc Trường sinh bán cho ta ư? Thôi đi! Giờ ta giao ước: ta có một đứa con, trả nó cho ta, và các người sẽ được tự do.
- Đồng ý! Tôi nhận lời, bà sẽ được gặp con. Tôi xin hứa... lời hứa của Hercule Poirot.
Người đàn bà kỳ lạ nọ lại cười rũ rượi, điên dại:
- Ông Poirot thân mến, sợ rằng ông lại mắc bẫy rồi. Ông có lòng tốt muốn tìm lại con trai tôi, nhưng tôi biết ông không bao giờ làm được.
- Thưa bà, trước Chúa, tôi thề sẽ tìm được con bà.
- Lúc đầu tôi hỏi ông có làm người chết sống lại được không?
- Vậy con bà đã...
- Phải, nó đã chết. Than ôi!
Achille tiến lên một bước, nắm cổ tay mụ:
- Thưa bà, tôi thề sẽ giữ lời hứa.
Nữ bá tước nhìn Achille như bị thôi miên.
- Bà không tin tôi, vì vậy tôi xin đưa ra bằng chứng; bà hãy tìm lại chiếc ví họ đã lấy của tôi.
Mụ rời phòng rồi trở lại ngay, một tay cầm ví, một tay cầm súng.
Tôi cảm thấy rõ trò lừa của Poirot khó thể thành công, nữ bá tước Vera Rossakoff không phải tay vừa.
- Bà mở ví ra, tìm ở ngăn trái. Đó... bà cầm lấy cái ảnh, nhìn xem.
Mụ rụt rè rút từ trong ví ra một tấm ảnh. Vừa thoáng nhìn, mụ kêu lên một tiếng và lao đến ông bạn.
- Đâu đâu?.. Nó ở đâu? Nói ngay!
- Bà hãy nhớ lời giao ước!
- Được, được, tôi tin ông, nhưng mau lên, kẻo họ về.
Mụ cầm tay Poirot kéo đi rất nhanh và lặng lẽ, tôi chạy theo.
Chúng tôi được dẫn vào đường hầm lúc mới tới, rồi rẽ sang phải. Ở nhiều chỗ, đường hầm rẽ ra nhiều ngách, nhưng nữ bá tước thuộc đường, hướng dẫn không do dự, càng ngày càng đi nhanh hơn. Mụ hổn hển:
- Mau kẻo không kịp! Phải ra ngoài trước khi nổ tung.
Theo đường đi, tôi hiểu đang chạy ngang quả núi để ra tới sườn bên kia. Chúng tôi chạy, chạy, mồ hôi đầm đìa và chân tay rã rời.
Cuối cùng có ánh sáng le lói. Vài bước nữa, một nỗ lực cuối cùng nữa, và chúng tôi ra tới bên ngoài. Toàn khu núi tắm trong ánh hồng bình minh.
Vòng vây bên ngoài đã không nằm yên: vừa ra khỏi hầm, chúng tôi đã bị ba người ôm chặt. Nhưng họ kêu lên ngạc nhiên rồi thả chúng tôi ngay. Achille giục:
- Mau, mau, mau! Tất cả chạy mau! Không được phí một phút.
Anh chưa nói hết câu, đất đã rung chuyển dưới chân, chúng tôi cảm thấy bị nhấc bổng lên không. Một tiếng nổ kinh hoàng vang lên cả một vùng núi.
Khi tôi tỉnh dậy, người ngồi cạnh giường cúi xuống nhìn.
Đó là Achille Poirot... Achille hay Hercule?
-Tôi đây, anh Hastings! Tôi đây! Thằng em Achille của tôi đi rồi... nó đi vào xứ sở của huyền thoại, vì nó chỉ có trong tưởng tượng. Đâu chỉ có “Số Bốn" mới biết đóng kịch. Một chút belađon bôi lên mắt, hy sinh bộ ria mép, và một cái sẹo thực mà hai tháng trước tôi phải chịu đau để gây ra - vì tôi không hòng chìa sẹo giả trước con mắt cú vọ của "Số Bốn”. Thêm vào đó là chính anh cũng tin là Achille Poirot có thật - thế là hoàn hảo. Anh đã giúp tôi một cách vô giá. Trong thành công của chúng ta, một nửa là nhờ anh! Khó khăn nhất là làm sao để chúng tin là Hercule Poirot ở bên ngoài, đang chỉ huy chiến dịch! Chỉ điều đó là ta nói dối, tất cả còn lại là sự thật: dùng dầu hôi làm dấu, tổ chức vòng vây bao quanh, vân vân, vân vân.
- Tại sao anh không cho một người khác đóng giả vai anh?
- Không lẽ anh muốn tôi đưa anh đến chỗ chết mà không đích thân theo sát anh từng bước? Anh đánh giá tôi sai quá. Vả lại, tôi luôn cảm thấy có thể thương lượng với nữ bá tước.
- Làm sao anh lại tin có thể thuyết phục được bà ta? Cũng không dễ gì...
- Nữ bá tước tinh hơn anh rất nhiều đấy. Mới đầu bà ta cũng bị lừa vì sự cải trang của tôi, nhưng sớm phát hiện được ngay. Cái lúc mà bà ta nói: "Ông gớm thật đấy, ông Achille Poirot", tôi hiểu đã đến lúc ngả con chủ bài cuối cùng của mình ra...
- Nhưng rồi anh định ra sao về cái chuyện đứa con trai mất tích?
- Định đến cái chỗ tôi đã đến. Anh biết phương châm của tôi là "Luôn sẵn sàng!" Ngay khi biết nữ bá tước dính líu đến vụ Bốn Người, tôi đã tìm hiểu tiểu sử của bà, và biết bà ta có một đứa con bị bắt cóc. Bà tưởng nó đã chết, nhưng không phải. Tôi đã tìm ra đứa con đó, chịu bỏ số tiền lớn để chuộc lại, giao nó cho những người tin cậy chăm giữ. Tôi chỉ còn việc chụp ảnh nó, và thế là đã sẵn sàng để lật ngược thế cờ.
- Poirot, anh thật kỳ diệu, tài ba!
- Tôi phải thú nhận là rất vui đã nắm cơ hội đó để thể hiện sự nể trọng với nữ bá tước Rossakoff. Nếu bà ta chết trong vụ nổ, tôi sẽ rất đau lòng.
- Thế còn số phận bọn Bốn Người ra sao?
- Mọi xác chết đều được nhận diện. Xác tên "Số Bốn" hầu như không nhận ra, đầu văng khỏi cổ. Tôi rất muốn xác định hắn là ai... cho chắc chắn... nhưng thôi kệ! Anh xem cái này - Poirot nói và đưa tôi tờ báo.
Báo đưa tin âm mưu phản loạn của Li Chang- yen thất bại thảm hại, và tên này đã tự tử. Poirot nghiêm nghị nói:
- Hắn là đối thủ chính của tôi. Tuy hai bên chưa từng gặp nhau, song đây là cuộc đấu giữa hai bộ óc đặc biệt. Khi hắn được tin ba đồng bọn đều chết, hắn đã chơi canh bạc cuối cùng được ăn cả, ngã về không, và đã thua. Tôi tiếc không biết "Số Bốn" là ai, vì nếu sau nay... Ô không! Mình quá tưởng tượng, chứ chắc hắn đã chết thật. Anh Hastings, hai ta đã đương đầu và chiến thắng Bộ Tứ Vĩ Đại! Bây giờ anh hãy trở về với người vợ yêu quý! Còn tôi... tôi sẽ nghỉ hưu thực sự. Vụ án lớn của đời tôi đã kết thúc, nay bất cứ vụ nào khác đều trở thành nhạt nhẽo. Quyết định rồi, tôi về chăm sóc vườn tược thôi! Trừ khi... trừ khi tôi lấy vợ!
Và Poirot cười ngượng nghịu. Tôi có nhận xét là đàn ông thấp bé thường hay ưa những phụ nữ cao ráo, to lớn...
Nữ bá tước Rossakoff, dù đã được giải thoát khỏi ách bọn Bốn Người, vẫn cao hơn Poirot bốn xentimet.
HẾT
Lời cuối: Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Đánh máy: HanAn
Nguồn: HanAn / VNthuquan - Thư viện Online
Nhà xuất bản Hội Nhà Văn (2000)
Được bạn: Thanh Vân đưa lên
vào ngày: 16 tháng 3 năm 2010